CÁCH SỬ DỤNG BLOG NÀY

1. Đi tượng đc gi:1. Nhng bn tr có máu phiêu lưu thích chu du x người trong thi gian dài nhưng vi s tin ti thiu nht có th; 2. Nhng người có tâm hn rng m, sn sàng dp cái tôi và quan đim ca mình sang bên đ tiếp nhn nhng quan đim mi.


2. Quan đim: Bn suy nghĩ khác tôi không có nghĩa là bn đúng, tôi sai hay tôi đúng, bn sai. Bn suy nghĩ khác tôi bi vì tôi và bn không ging nhau. The meaning of life is not in trying to find out who is right, who is wrong; the meaning of life is in accepting each other's differences.


3. Phương tin: "Vi bát cơm ngàn nhà; Mt mình muôn dm xa; Chn chn không phi nhà; Ch nào cũng là nhà."

4. Ni dung: Bao gm nhiu lĩnh vc mà tôi quan tâm 1. Du lch bi (Budget Travelling) 2. Sng ti gin (Minimalism) 3. Tái chế và tái s dng (Upcycle & Repurpose) 4. Tâm linh (Spirituality) 5. Triết lý cuc sng

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

Đừng ghen tị, để cuộc sống đẹp hơn!


Ghen tị là một cảm xúc có thể dày vò bạn với những giận dữ, thù ghét. Và nếu như bạn không thể hiểu được những nguyên nhân đằng sau lòng ghen tị của mình, bạn sẽ không bao giờ có được một cuộc sống hạnh phúc và hài lòng.

1. Hiểu được cảm xúc đó. Ghen tị là sự kết hợp của nỗi sợ và giận dữ; nỗi sợ bị mất đi thứ gì đó, và giận dữ vì người nào đó có cái mà bạn muốn. Cảm xúc đó có thể khiến bạn tự co rút bản thân để lẩn tránh nỗi đau.

2. Nhìn lại quá khứ của bạn để hiểu tại sao bạn cảm thấy bấp bênh như thế và những sự kiện gì đã khiến bạn có những cảm xúc giận dữ và ghen tị đang dày vò, phá hủy bạn. Khi xác định được gốc rễ của nó, bạn có thể bắt đầu tách bản thân ra khỏi chúng.

Việc chối bỏ sự thật có xu hướng thổi phồng những xúc cảm không có lợi và trở thành không thể chịu đựng được. Đối mặt với quá khứ có thể sẽ không dễ chịu gì nhưng bạn sẽ có được một tương lai hạnh phúc.

3. Cho phép bản thân thực sự “cảm nhận” xúc cảm đó một cách tích cực. Bạn không thể kiểm soát những gì bạn đang cảm thấy; bạn chỉ có thể kiểm soát những gì bạn đang làm từ cảm nhận đó.

Khi bắt đầu cảm thấy ghen tị, hãy tự hỏi bản thân: đó là vì sợ nhiều hơn hay vì giận nhiều hơn? Nếu có sự co thắt ở bụng, nhiều khả năng là sợ hãi. Nếu vai và hàm như lửa đốt, bạn đúng là đang giận dữ rồi.

4. Hãy thổ lộ về những cảm xúc của bạn với người mà bạn ghen tị. Nếu bạn bị làm ngơ, hãy nói điều gì đó. Giải thích rằng bạn quan tâm, bạn đang bị dằn vặt vì lòng ghen tị và không thể nào thoát khỏi ý nghĩ đó.

Tuy vậy, đừng có đưa ra bất kỳ lời kết tội hay yêu cầu gì hết. Chia sẻ những cảm xúc thực của bạn với ai đó nhưng không trách họ sẽ có thể tạo ra sự kết nối sâu sắc giữa 2 bạn.

5. Hãy xem sự ghen tị của bạn đang dạy bạn những gì. Sự ghen tị có thể cho bạn biết cái bạn muốn. Nếu bạn ghen tị với ai đó vì họ có nhiều tiền hơn, hãy tự hỏi bản thân, làm thế nào để kiếm được nhiều tiền hơn thế trong cuộc đời bạn? Nếu bạn ghen tị với ai đó vì họ đẹp, hãy tự hỏi bạn có thể đẹp hơn ở những điểm nào?

Khi bạn bắt đầu hành động để có được cái bạn muốn, bạn sẽ không còn cảm thấy ghen tị với người khác nữa. Thay vì đó, bạn sẽ cảm thấy hứng thú, kích thích bởi bạn đang trên con đường tới cái bạn mong đợi.

6. Cần thay đổi những niềm tin sai lệch là gốc rễ của sự ghen tị như: “Tôi không đủ tốt, không đủ xinh xắn hay không đủ giàu” hoặc “Họ xinh hơn, thông minh hơn hay tốt hơn tôi”. Niềm tin có thể thay đổi. Nếu làm được, bạn sẽ thay đổi được cách bạn cảm nhận.

Hãy dành cho bản thân một niềm tin mang tính khuyến khích và bạn sẽ dễ chịu, dễ thở hơn nhiều. Tiếp xúc với những người lạc quan, tự tin và hạn chế giao lưu với những ai hay “than vắn thở dài” bởi họ chỉ càng lôi bạn xuống sâu hơn thôi.

Khi bạn chủ động tạo một cuộc sống hạnh phúc cho mình, bạn sẽ thấy sự giận dữ, lòng ghen tị và những đau khổ dằn vặt tự nhiên tan biến.

Gợi ý

- Cần phải biết rằng ghen tị không đồng nghĩa với tình yêu. Đôi lúc, người ta nghĩ rằng, khi cảm thấy ghen tị về ai đó tức là đang yêu người ấy. Ghen tị không phải là yêu, mà là nỗi sợ và giận dữ vì mất tình yêu. Lòng ghen tị mất đi khi bạn thực sự yêu chính bản thân mình và người khác dù cho bất cứ chuyện gì bạn đang phải trải qua.

Cảnh báo

- Nếu sự ghen tị trong mối quan hệ của bạn đang dẫn tới tranh giành quyền lực hay sự kiểm soát, đó là dấu hiệu cho thấy đằng sau đó là một vấn đề mang tính gốc rễ cần phải được giải quyết.

- Không được cho phép người khác “kiểm soát” bạn. Thà sống một mình còn hơn là phải sống với những người cảm thấy họ đang “sở hữu” bạn. Một người ưa kiểm soát cũng dễ sinh lòng ghen tị, đi cùng với rất nhiều những cảm xúc mà chẳng cái nào trong đó là đáng hoan nghênh cả.

(theo phattuvietnam.net)


NGHỆ THUẬT SỐNG: THIỀN VIPASSANA S.N. Goenka 

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

NIỆM PHẬT CHUYỂN HÓA TẾ BÀO UNG THƯ


Lời Người Dịch
Bệnh tật đeo theo để khổ đời
Con người vì bệnh phải mòn hơi
Bệnh xui quân tử không tròn chí
Bệnh khiến nam nhi phải lỡ thời
Bệnh chuyển trần gian thành địa ngục 
Bệnh mờ non nước áng mây trời
Phải chăng không bệnh là hy hữu?
Nên mộng xuân hồng phải tả tơi!

Một nhà thơ nào đó đã đặc tả bệnh khổ, một trong ba nỗi khổ lớn nhất của nhân sinh, đầy hình tượng mà cũng vô hình chân thực. Thực vậy, già, bệnh, chết là ba cửa ải phải qua của đời người, mà trong đó bệnh khổ mang tính quyết định. Nếu già mà tỉnh táo, khỏe mạnh, chết mà nhẹ nhàng, thanh thản thì cũng không phải là điều đáng sợ; chỉ có bệnh khổ dày vò  thân tâm, khiến chúng ta cầu sống không được, muốn chết không xong mới là điều đáng sợ nhất. Thế nên có người bảo: “Tôi không sợ chết, chỉ cần khi chết ra đi nhẹ nhàng, không bị bệnh tật hành hạ đau đớn.” 

Nhưng thực ra, sợ chết vốn là bản năng, chấp ngã của con người. Dù lúc bình thời mình có hiểu vô thường và nói cứng bao nhiêu, nhưng khi đối diện cái chết, trước nỗi đau đớn dày vò, cũng như nghiệp lực quá khứ quấy nhiễu, nếu bình thời không có công phu đắc lực, thử hỏi mấy ai là có thể không hốt hoảng sợ hãi, trước vọng tưởng “cái ta” sắp mất của mình?

Thực đúng, như những gì mà Thiền sư Quy Sơn đã nói: “Một mai nằm bệnh ở giường, các khổ trói trăn bức bách, sớm chiều lo nghĩ, tâm ý bàng hoàng, đường trước mịt mờ, không biết về đâu? Lúc đó mới biết ăn năn, như khát mới mong đào giếng, chỉ hận sớm chẳng lo tu, đến già nhiều điều lầm lỗi. Lâm chung rối loạn, lưu luyến bàng hoàng.”

“Sinh từ đâu đến, chết đi về đâu?” Đây là câu hỏi mà phần lớn chúng ta vẫn mê mờ không rõ. Thế nhưng khi còn khỏe mạnh, chúng ta lại không biết dùng thời gian và năng lực quý báu để tìm câu giải đáp; đợi đến bệnh nặng sắp chết mới bàng hoàng lo sợ, thử hỏi lúc ấy có kịp không?

Trong các thứ bệnh, có lẽ ung thư là căn bệnh mà người ta sợ hãi nhất vì mọi người đều nghĩ đây là một thứ bệnh nan y chưa có thuốc đặc trị, ai vướng phải nó như vướng phải án tử hình, nhất định sẽ bị tra khảo, hành hạ đến chết.

Duyên lành thay, đức Phật và các vị thiện tri thức đã chỉ cho chúng ta một con đường thấu thóat: đó là quán chiếu bản chất vô thường, vô ngã của nhân sinh, sửa đổi tư tưởng và cách sống của mình, phát huy nguồn
ánh sáng vô lượng trong tự tâm, soi sáng cho mình và người trong cõi đời tăm tối. Lại thêm, chỉ cần có tâm sám hối, có niềm tin chắc chắn mở rộng tâm mình đón nhận ánh sáng nhiếp thọ của đức Phật A Di Đà và mười phương chư Phật, chúng ta sẽ thể nghiệm được sức Phật thực không thể nghĩ bàn, sức niệm Phật cũng không thể nghĩ bàn, có thể chuyển hóa bệnh khổ thành an vui, biến đổi Ta bà thành Tịnh độ. Hành trạng sống quên mình, chết an nhiên của các vị cao tăng, đại đức và những ai chân thực niệm Phật là bằng chứng đầy sức thuyết phục cho khả năng vi diệu, bất khả từ nghì của Phật pháp.

Vạn hạnh Thiền sư bảo:
“Tùy cảnh thạnh suy không sợ hãi”

Tuệ Trung Thượng sĩ nói: “Sinh tử thấu đáo rồi, nhàn vậy thôi.”

Cũng như vậy, hành giả Tịnh độ đủ lòng tín nguyện, biết rõ và chắc nẻo về của mình: “Hiện tại sống an
lạc, tương lai sinh Cực Lạc.”

Do đó, bệnh khổ không phải là không có lối thoát, chẳng qua chúng ta có biết cách thoát cũng như đủ niềm tin và công phu để thoát hay không. Cho nên:
Nếu biết giữ tâm mình không bệnh
Tử sinh nhìn lại chỉ trò chơi!

“Thân bệnh mà tâm không bệnh,” đây không phải là câu nói suông mà đã được chứng thực qua cuộc đời của Pháp sư Đạo Chứng. Pháp sư là một vị chuyên trị ung bướu trước kia, sau đó trở thành bệnh nhân ung
thư, và cuối cùng xuất gia tu hành, thắng vượt bệnh khổ. Với bi nguyện giúp đời, Pháp sư đã dấn thân vào nẻo khổ , cùng an ủi, khích lệ và chỉ dẫn cho những ai cùng trong cảnh ngộ. Tác phẩm Niệm Phật Chuyển Hóa tế Bào Ung Thư này chính là ghi lại những lời giảng dạy vô giá của Pháp sư.

Trên con đường nhân sinh, nhiều gập ghềnh lại lắm hầm hố chông gai này, thử hỏi đã bao lần chúng ta vấp ngã? Có kẻ bỏ cuộc, có người tự đứng lên, song phần lớn là phải nhờ thiện tri thức dìu đỡ.

Như các vị Thiền sư trong quá khứ, Pháp sư Đạo Chứng là một vị thiện tri thức vĩ đại của bệnh nhân ung thư trong thời hiện đại. Người đã dìu đỡ chúng sinh vượt qua vũng tối sợ hãi trước cửa ải bệnh khổ, tìm ra
nguồn sáng nơi đức Phật Vô Lượng Quang. Người cũng lấy thân mình làm gương, thị hiện thân bệnh mà tâm
không bệnh, dùng trí tuệ từ bi và phong thái tự tại giữa bệnh khổ để an ủi, khích lệ và chỉ dạy chúng ta thấy
được bản chất nhân sinh, phát huy ánh sáng sinh mệnh, nhằm soi rọi và sưởi ấm cho mình và người. Quả thực như Pháp sư nói: Chúng ta không thể quyết định chiều dài của sinh mệnh, nhưng chúng ta có thể quyết định chiều rộng và chiều sâu của sinh mệnh. Cho nên, học sống một ngày là biết ơn một ngày, học sống một hôm có ý nghĩa một hôm. Vì vậy:
Cho dù ngày mai tận thế, 
Đêm nay sen vẫn trồng
Đem lòng gió mát trăng thanh
Xưng tán A Di Đà Phật.

Quyển sách này còn bao gồm bốn bài chia sẻ tâm đắc của các giáo sư, tiến sĩ hay bác sĩ. Đây đều là những vị có kinh nghiệm bệnh khổ và chiến thắng bệnh tật, vì tất cả từng là bệnh nhân ung thư! Song nhờ biết
chuyển hóa tâm niệm, thay đổi cách sống, phát huy tiềm năng sinh mệnh, mà có vị sống đến hơn ba mươi năm sau khi bác sĩ tuyên án tử trong vòng sáu tháng! Quan trọng hơn nữa, họ đã tìm được dòng sinh mệnh vô tận trong đời sống hữu hạn, phong thái tự tại, biết ơn và vị tha giữa thế giới vô thường. Điều này khiến chúng ta càng tin tưởng vào sự vi diệu của Chánh pháp, tiềm năng vô tận của sinh mệnh và sức gia hộ không thể nghĩ bàn của chư Phật!

Mỗi dòng trong nguyên tác là một chuỗi châu ngọc vô giá, đem lại nguồn an ủi và khích lệ vô biên cho người đọc. Mỗi tư tưởng của tác giả là một nguồn ánh sánh thanh tịnh, soi rọi thân tâm chúng ta khiến mê lầm tan biến, còn lại tâm mát mẻ sáng trong. Chúng ta có thể cảm nhận trí tuệ và tâm từ bi của Pháp sư đã đem lại
niềm tin và an lạc cho mình ngay trong giây phút hiện tại.

Cho nên, quyển sách này là thiện tri thức cho những ai đang sống trong bệnh khổ, là thuốc diệu Già Đà trị lành bệnh tật cả hai mặt thân tâm, là ánh sáng xua tan vũng tối sợ hãi, là nhịp cầu cảm thông giữa chư Phật
và chúng sinh, là chỗ quay về nương tựa cho những tâm hồn bơ vơ, lạc lõng.

Bút giả đã đem tâm chí thành, tri ân để dịch tác phẩm này. Cầu nguyện chư Phật gia hộ dịch phẩm có thể chuyên chở nguyên vẹn tâm từ bi, trí tuệ của Pháp sư và các vị thiện tri thức đến với người đọc. Cũng như
cầu nguyện những ai có duyên đọc được, bệnh khổ sẽ tiêu trừ, tăng trưởng niềm tin, tìm được ánh sáng vô tận của sinh mệnh và ý nghĩa đích thực của nhân sinh, để sống những tháng ngày thực sự an lạc và hữu ích.
Trong khi phiên dịch, bất chợt bút giả lãnh hội ý chỉ của đức Phật Dược sư, vị Phật trị lành bệnh khổ, kéo dài thọ mạng của chúng sinh, không khác đức Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn; tất cả đều là dòng sinh
mệnh vô tận (Vô Lượng Thọ) và nguồn sáng vô lượng (Vô Lượng Quang) trong bản tâm thanh tịnh của chúng ta. Chỉ cần tiếp xúc được nguồn sống này, thì Đông và Tây không khác, sinh và tử như giấc mộng đêm qua, ngay Ta Bà uế trược đã xây dựng Tịnh Độ trang nghiêm. Trong niềm xúc cảm và tri ân này, bút giả xin ghi lại nơi đây bài Sám nguyện Dược Sư để chia sẻ cùng đại chúng, thay cho lời kết luận:

Con quỳ đảnh lễ Phật Dược Sư
Ngưỡng nguyện quy y đấng Đại Từ
Phóng quang gia hộ cho đệ tử
Sáng tỏ đường về cõi Vô Dư 

Bao kiếp qua rồi bởi si mê
Gây nên nghiệp chướng rất nặng nề
Chiêu cảm thân tâm nhiều bệnh khổ
Nguyện xin sám hối hết mọi bề

Bỏ ác làm lành, nguyện phóng sanh
Từ bi hỷ xả gắng tu hành
Chuyển hóa nghiệp nhân nhiều đời trước
Nạn tai tiêu sạch hưởng quả lành

Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang
Nguyện lớn độ người khắp thế gian
Gia hộ cho con lìa bệnh khổ
Tùy cơ cảm ứng chẳng nghĩ bàn

Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang
Thân dù bệnh khổ chẳng được an
Tâm giữ vững vàng luôn chánh niệm
Tây phương chờ sẵn đóa sen vàng.

Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang
Nguyện học hạnh Ngài cứu thế gian
Diệu pháp cho đời vơi đau khổ
Trăm ngàn gian khó chẳng từ nan. 
4

Nam mô Sinh Tử Tự Tại, Hoan Hỉ Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nguyện đem đất ở Ta bà
Trồng sen Tịnh độ, chín tòa ngát hương!
Thích Minh Quang kính ghi
Tịnh thất Hàn Mai, ngày 27/7/2005 

Đọc tiếp sách tại đây hoặc ở đây.

Nếu không thích đọc, có thể nghe sách nói tại đây.

Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

Ý kiến của tôi về vụ Huyền chip

Hí hí hí, có người gửi cho tôi cái comment này đề nghị cho ý kiến về Huyền chip nè bà con!!!

"Chị Dung thân mến! Ko biết giờ chị đã đắc đạo chưa nhỉ?
Chị có rảnh thì cho vài ý kiến về vụ chị Huyền Chíp,700usd đi khắp thế gian này cái! Rất hay khi chị đang tu luyện về tham sân si,nhân quả...
http://www.webtretho.com/forum/f26/20-tuoi-700-usd-va-di-khap-the-gian-1257142/index73.html"

Đang làm con cóc ở trong hang, làm con rắn đang lột da, làm con gấu ngủ đông,.... (còn làm con vật gì nữa thì tạm thời chưa nghĩ ra) lại "được" lôi ra ngoài ánh sáng nên chờ tôi....... dụi mắt vài cái cho quen sáng nghen bà con!!!!

E hèm, e hèm, e hèm. Tóm lại, ý kiến của tôi là như sau: Tôi KHÔNG có ý kiến gì cả!!! Vì sao? Vì những lý do này:

Một là, tôi không biết nhiều về Huyen Chip nên xin miễn ý kiến đi nghen!!!

Hai là, tôi cũng thường xuyên được/bị người ta "bình loạn," "bàn tón,".... đủ kiểu nên không muốn làm điều tương tự với một người khác. Tóm lại, ai muốn nói gì thì cứ nói còn việc ta thì ta cứ làm hehehehe.

Ba là, người chưa bao giờ leo núi thì không bao giờ cảm nhận/ đồng cảm được cảm giác của những người đã từng đứng trên đỉnh núi nên có giải thích kiểu gì cũng vô ích (hí hí hí, giống như người chưa thấy Niết Bàn thì không bao giờ biết được Niết Bàn là gì - thông cảm nghen bà con; Bị "nhiễm" hơi nặng rồi đó.)

Bốn là, từ khi được/bị bà con quan tâm "bình loạn," "bàn tón," và từ những kinh nghiệm "va đập" với người bản địa mà tôi đã ngộ ra một chân lý rằng:

Trên thế giới có hai loại người. Loại thứ nhất là những người dám làm những điều mà người khác nghĩ rằng họ không làm được và kêu gọi người khác cùng làm; loại thứ hai là những người không dám làm và nghĩ rằng do mình không làm được nên cũng chả thằng nào con mẹ nào làm được. Tóm lại, mỗi người được quyền chọn loại người mà họ muốn trở thành.

Tôi đính kèm comment cùng website bình loạn về Huyền chip ở trên để bạn nào rảnh rỗi và có hứng thì vào đó hóng chuyện với người ta, còn tôi thì xin rút lui về hang đây!







Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

TÌNH YÊU VÀ NGHIỆP CHƯỚNG



Thuở xưa có một ông trưởng giả nọ sang giàu hơn thiên hạ. Gia đình sinh sống trong cảnh vô cùng sung túc. Bằng mọi thứ sung sướng mà tiền của đã đưa đến cho ông. Còn có cái thú khác nữa mà ai cũng thèm muốn đó là ông có bốn bà vợ xinh đẹp trẻ trung không ai chịu nhường ai.  

    Bà vợ thứ nhất được ông yêu mến hơn hết. Vợ chồng gần gũi nhau không giây phút  nào rời. Thậm chí lúc đi đứng nghỉ ngơi, nằm ngồi, làm lụng v.v... lúc nào cũng có thiếp có chàng.

    Ông ta chiều hơn cả cô chiều ông. Ông chăm sóc luôn cả món ăn đồ mặc cho nàng, sắm sửa gì trong gia đình thì ông lo sắm cho cô ta trước. Mỗi mùa mưa nắng, ông lo chạy chữa, đề phòng cho nàng làm sao cho sắc đẹp không hề sút kém.

    Hai người ăn ở với nhau như bát nước đầy. Ông rất nuông chiều cô, chưa từng trái ý cô. Nhờ thế mà hai vợ chồng chưa từng có lời qua tiếng lại.

    Cô vợ thứ hai không được chồng nâng niu gần gũi như cô chánh thất, nhưng cũng là một người biết thương biết trọng chồng. Nàng lo công việc gia đình ở phòng trong, ít khi gặp mặt chồng.     Thỉnh thoảng gặp được chồng nàng hân hoan sung sướng cố giành giựt với “chị nhà” đôi phút bên chàng. Sau hạnh phút ngắn ngủi ấy nàng lại trở về nhiệm vụ với vẻ mặt buồn thiu thỉu.
   
    Cô hầu thứ ba xem chừng lạt lẽo như khách qua đường. Năm thì mười họa có gần gũi
được chồng, nàng mới tạm gọi là cuộc đời đáng sống còn ngoài ra kiếp sống nàng cô độc
lạnh lùng làm sao!... Nếu ông chồng chẳng vì lâu ngày nhớ nàng, lui tới với nàng trong giây lát hoặc nếu trong tư phòng nàng không có xảy ra việc gì bất thường, thì chắc cả gia đình không có ai còn nhớ đến nàng nữa.

    Cô thứ tư: một kẻ tôi đòi trá hình không hơn, không kém. Suốt ngày đêm nàng làm không rảnh tay tất cả những công việc chồng giao cho. Nặng nhọc khó khăn, nàng không oán trách, chồng đối xử theo kẻ trọc phú bần tiện, nàng cũng chẳng cần. Mặc dù thế chưa có một lần nào nàng được chồng chú ý thương hại hoặc săn sóc giúp đỡ gì để gọi là trả ơn nàng hết lòng thờ chồng.

    Bỗng một hôm ông trưởng giả lâm bệnh nặng. Ông  chạy chữa thuốc men đã nhiều nhưng không thấy thuyên giảm chút nào. Nhận thấy giờ lâm chung sắp đến, ông gọi người vợ thứ nhất đến nói:

  Ta sắp chết đây, em phải theo ta về bên kia cõi đời cho có mặt nhau, lúc tử như lúc sinh. 

    Người vợ thản nhiên, không gì bối rối đáp:

  Tôi không thể theo anh được. 
    Ông chồng ngạc nhiên hỏi:

  Suốt đời ta rất yêu mến người, chiều theo mọi ý muốn của ngươi, sao bây giờ lại
không đi theo ta? Trả nghĩa ta như thế ư?  

  Anh có lòng yêu mến tôi thật, nhưng tôi không thể nào đi theo anh được. Anh biết
cho như thế là đủ rồi. 

    Ông chồng buồn bực gọi người vợ thứ hai và cũng bảo nàng chết theo mình.

    Cô hầu đáp:

  Bình sanh anh yêu mến chị cả hơn hết sao anh không bảo chị đi theo? Tôi là phận em
út hầu hạ, đâu có thể cùng chết với anh được? 

    Người chồng nhìn nàng đăm đăm nói:

Ngày trước, lúc đi tìm cho được ngươi để đem về làm vợ là chuyện khó khăn không thể tả được. Ta phải chịu lạnh chịu nóng, chịu đói chịu khát vì ngươi. Bây giờ ngươi nghĩ sao mà không đi cùng ta?

    Người vợ nói lại:

  Anh chịu cực khổ khó khăn là để thỏa mãn lòng tham dục của anh. Vì nó thì anh
trách nó chớ trách gì tôi? Anh cần đến tôi, chớ tôi có cần gì đến anh đâu mà anh đem
chuyện gian khổ nói với tôi? Nếu anh chẳng thèm thuồng thân xác tôi thì anh đến tôi
làm gì? Chuyện ấy tôi không mang ơn mắc nợ gì anh cả. 

    Người chồng lại kêu người vợ thứ ba đến và ưu ái khuyên nhủ nàng nên theo mình về bên kia cõi sống.

    Người vợ thứ ba nói:

  Lâu nay tôi đã chịu ơn huệ của anh, nay đến ngày cuối cùng của anh, tình vợ chồng
dù sao cũng đậm đà nồng thắm rủi bề nào tôi sẽ tiễn đưa anh ra đến ngoài thành mà
thôi chớ chắc không thể nào đi hơn đến chỗ anh an giấc nghìn thu được. 

    Ông chồng lại thất vọng. Trong số bốn vợ thì ba bà đã từ chối niềm chung thủy với mình.

Ông cho gọi người hầu thứ tư lên và cũng như mấy lần trước anh bảo cô hầu phải cùng chết với ông cho có bạn.

    Cô hầu trả lời:

  Tôi xuất thân con gái, nhỏ ở với cha, thành gia thất ở với chồng. Tôi đã xa lìa cha mẹ
đến đây hầu hạ anh để anh sai khiến, thì quyền chết sống vui buồn đều do anh. Đối
với tôi tính mạng và cả cuộc đời tôi trao cả cho anh. Nay đến phút lâm chung, tôi xin
theo anh cùng đi.

Ba người vợ trước là những người ý hiệp, tâm đầu với chồng mà không thể đi theo được.
Người thứ tư khổ cực xấu xí một kẻ tôi đòi chẳng chút nào hợp ý với chồng lại chịu chết
cùng chồng.

    Câu chuyện xảy ra làm ai ai cũng ngạc nhiên không sao hiểu tâm địa của mỗi hạng người.

    Có người đem câu chuyện lên trình Đức Phật. Ngài dạy: Người vợ thứ nhất dụ cho thân người. Người đời ưa mến xác thân hơn cả vợ lẫn con, nhưng đến khi chết nằm trơ nơi đất chẳng chịu đi theo!

    Vợ thứ hai dụ cho của cải! Được thì vui chẳng được thì buồn. Đến khi chết, của cải
hoàn lại cho đời, nào có chịu đi theo!?

    Vợ thứ ba là dụ cho cha mẹ vợ con, anh em, bạn bè tôi tớ v.v... Lúc sanh thời lấy ân nghĩa tình ái cùng nhau tưởng mến, đến khi chết, họ khóc lóc thảm thiết, thương nhớ nhau thật đấy nhưng cũng chỉ tiễn đưa đến ngoài thành tức nghĩa địa là cùng. Lại khóc than thảm thiết lần nữa rồi cuối cùng họ từ giã nấm mồ hoang lạnh ai về nhà nấy, vì ai lại chẳng có công  ăn việc làm, tình nghĩa riêng tư? Ai còn bận tâm  đèo bòng theo
người chết nữa?

    Có thương nhớ chăng, lâu lắm cũng không quá mười ngày, rồi lại nhóm họp nhau  ăn
uống vui say quên mất người chết.

    Nhưng người vợ thứ tư lại khác, vợ thứ tư là tâm ý của con người. Trong thiên hạ ai mà không có tự ái bảo thủ ý mình, buông tâm thả ý, tham dục, giận dữ, chẳng tin chánh đạo?

Đến khi chết chỉ có tâm ý mới chịu đi theo để phải đọa vào ác đạo. Vì thế ta phải tự mình
thẳng tâm chánh ý.

There is no dry land



Once upon a time there was a fish. And just because it was a fish, it had lived all its life in the water and knew nothing whatever about anything else but water. And one day as it swam about in the pond where all its days had been spent, it happened to meet a turle of its acquaintance who had just come back from a little excursion on the land.

“Good day, Mr. Turtle!” said the fish. “I have not seen you for a long time. Where have you been?”

“Oh,” said the turtle, “I have just been for a trip on dry land.”

“On dry land!” exclaimed the fish. “What do you mean by on dry land? There is no dry land. I had never seen such a thing. Dry land is nothing.”

“Well,” said the turtle good-naturedly. “If you want to think so, of course you may; there is no one who can hinder you. But that’s where I’ve been, all the same.”

“Oh, come,” said the fish. “Try to talk sense. Just tell me now what this land of yours is like? Is it all wet?”

“No, it is not wet,” said the turtle.

“Is it nice and fresh and cool?” asked the fish.

“No, it is not nice and fresh and cool,” the turtle replied.

“Is it clear so that light can come through it?”

“It is not clear. Light cannot come through it.”

“Is it soft and yielding, so that I could move my fins about in it and push my nose through it?”

“No, it is not soft and yielding. You could not swim in it.”

“Does it move or flow in streams?”

“No, it neither moves nor flows in streams?”

“Does it ever rise up into waves then, with white foams in them?” asked the fish, impatient at this string of Noes.

“No!” replied the turtle, truthfully. “It never rises up into water that I have seen.”

“There now,” exclaimed the fish triumphantly. “Didn’t I tell you that this land of yours was just nothing? I have just asked, and you have answered me that it is neither wet nor cool, not clean nor soft and that it doesn not flow in streams nor rise up into waves, and if it isn’t a single one of these things, what else is it but nothing? Don’t tell me.”

“Well, well,” said the turtle, “If you are determined to think that dry land is nothing, I suppose you must just go on thinking so. But any one who knows what is water and what is land would say you were just a silly fish, for you think that anything you have never known is nothing just because you have never known it.”

And with that, the turtle turned away and leaving the fish behind in its little pond of water, set out on another excursion over the dry land that was nothing.”

(Quoted from Bhikkhu Silacara’s booklet, The Four Noble Truths)