CÁCH SỬ DỤNG BLOG NÀY

1. Đi tượng đc gi:1. Nhng bn tr có máu phiêu lưu thích chu du x người trong thi gian dài nhưng vi s tin ti thiu nht có th; 2. Nhng người có tâm hn rng m, sn sàng dp cái tôi và quan đim ca mình sang bên đ tiếp nhn nhng quan đim mi.


2. Quan đim: Bn suy nghĩ khác tôi không có nghĩa là bn đúng, tôi sai hay tôi đúng, bn sai. Bn suy nghĩ khác tôi bi vì tôi và bn không ging nhau. The meaning of life is not in trying to find out who is right, who is wrong; the meaning of life is in accepting each other's differences.


3. Phương tin: "Vi bát cơm ngàn nhà; Mt mình muôn dm xa; Chn chn không phi nhà; Ch nào cũng là nhà."

4. Ni dung: Bao gm nhiu lĩnh vc mà tôi quan tâm 1. Du lch bi (Budget Travelling) 2. Sng ti gin (Minimalism) 3. Tái chế và tái s dng (Upcycle & Repurpose) 4. Tâm linh (Spirituality) 5. Triết lý cuc sng

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôi đi Myanmar. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôi đi Myanmar. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Một số từ thông dụng trong tiếng Miến (Myanmar)


I don’t know/ I don’t understand: Nạ ma lê bu / Mạt ti bu
Toilet: ay đa
Where’s the toilet? Ay đa ba ma lay?
Ma hô pu: No
Hô kê: Yes
Hello: Ming la ba
How are you? Nị cao là?
I’m well: Cao nị
Have you eaten yet? Sai pí bì la
I’ve eaten. Sai pí bì
How much? Bờ láo lê?
Thank you: che zu bê
You are welcome: chi sut tin ba tê
Water: dề
Market: dzê
I want to buy water? Chơ ma kô dề tờ bu pei pơ
What’s your name? Na mê ba lô cô lê?
My name is Dung: Chơ ma na mê Dung
Where are you going? Bê toa ma lê?
Going to market: dzê toa mê
What are you doing? Mê ba lô nị lê?
I’m walking: Nai chao tê
How old are you? A tết bờ láo lê
I’m (female): chờ ma
I’m (male): chờ nô
I am Burmese: chờ ma Bơ ma
I’m Shan: chờ ma Shan
I want to eat Shan noodles: chờ ma Shan khao sờ que xa mề (khao sờ que: noodles; xa mề: eat)
Ngạ mà (I have) camera mờ ba bu (no): I have no camera
Ngạ mà bơ xèn (money) mờ ba bu: I have no money
Older brother: A cu chi / a kô
Younger brother: ni ma li / nhị lê
Older sister: ama
Younger sister: nhị ma
Expensive: dze chi đề
Cheap: dze pô đề
Good: cao tề

1: tip / ta
2: nip / na
3: tô
4: lei
5: ngạ
6: chao
7: ku – nip
8: shịt
9: kô
10: xề
11: xê típ
12: xê nip
13: xê tô
20: nạ xề
35: tô xề ngạ
100: taya/ tiên ya
200: nạ ya
300 tô ya
400 lei ya
500 ngạ ya
600 chao ya
700 ku nip ya
800 shịt ya
900 kô ya

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Tôi đi Myanmar – Kỳ 7: Những kỷ niệm đáng nhớ (tt)

 Kỳ trước: Tôi đi Myanmar – Kỳ 7: Những kỷ niệm đáng nhớ 

Món ăn yêu thích của tôi tại Myanmar


Món ăn này giống như lẩu của Việt Nam vậy đó, nhưng được nấu trong một cái thố nhỏ vừa đủ cho một người ăn. Món ăn cũng gồm có thịt, rau (rau muống, cà rốt, bắp cải, giá…), bún, gia vị; ngoài ra còn có nấm, đậu hũ, xả và nhiều thành phần khác nữa mà tôi không biết tên. Tất cả hợp lại thành một món ăn khá ngon và hợp khẩu vị với tôi. Đa số món ăn của Myanmar đều sử dụng rất nhiều dầu mỡ; vì thế sau hai tuần chỉ ăn toàn những món dầu mỡ như thế, bao tử của tôi biểu tình không tiêu hoá thức ăn nữa. Sau khi khám phá ra món này đầu tiên là ở Yangon, sau đó ăn thử ở InLay, tôi phát hiện ra đây là một món ăn khá ngon và dễ tiêu. Thực ra đây là món ăn duy nhất ở Myanmar mà tôi phát hiện ra không có sử dụng nhiều dầu mỡ. 
 
Giá của món ăn này cũng khá bình dân so với một bữa ăn truyền thống Myanmar, giá khoảng 1 đô. Nhìn vào hình chụp thì giá 1 đô không hề đắt tí nào. Tôi đã giới thiệu món này cho anh chàng Stefan người Bỉ và cô nàng Aude người Pháp. Cả hai đều rất thích món này và đều tròn mắt kinh ngạc khi biết giá của món này chỉ có một đô la Mỹ.
 
Tùy từng địa phương mà cách nêm nếm món ăn khác nhau. Ví dụ, ở Hồ Inlay, người nấu cho nhiều đậu phộng vào nên món ăn có vị béo và thơm (dĩ nhiên vị béo của đậu phộng dễ chịu hơn nhiều so với vị béo của dầu mỡ chiên xào). Ở Yangon, người bán lại cho vào mè và nhiều xả nên món ăn có vị cay nồng; cái này mà ăn vào mùa mưa là hết xảy.

Quán bán món ăn ở Hồ Inlay nằm ở khu chợ đêm. Chợ đêm ở đây cũng là chợ ngày. Ban ngày người ta hợp chợ bên trong. Đến khoảng 5h chiều, chợ đóng cửa, những người bán chợ đêm dọn hàng ngay trước cửa chợ ngày để bán. Ở Yangon, quán này nằm ngay trên đường Mahabooni, đường này dù ngày hay đêm vẫn tấp nập hàng quán lề đường và đường này nằm ngay trung tâm thành phố, ngay cạnh Sule Paya (chùa Sule). Quán mà tôi hay ghé ăn món yêu thích nằm sau cầu vượt (từ cầu vượt đi khoảng 300 mét là đến). Bạn sẽ nhận ra quán ăn đường phố bởi những cái thố được dùng để nấu món này nằm ngay trên bàn, phía sau của những cái thau đựng thành phần thức ăn (như trong hình).


Món này có thể được ăn cùng với ớt tươi giã hay kim chi. Nhớ ăn từ từ kẻo phỏng lưỡi nhé. Vừa ăn vừa hít hà vị thơm và cay của xả và ớt, vị béo của mè và đậu phộng nghen bạn.

 
Tên gọi của món này trong tiếng Myanmar là Mê Ung Mi Xê.

Hãy đến Myanmar và gọi món Mê Ung Mi Xê nghen.
Bà chủ cửa hàng nơi tôi ăn món này tại Yangon

Tôi đi Myanmar – Kỳ 7: Những kỷ niệm đáng nhớ

Kỳ trước: Tôi đi Myanmar – Kỳ 6: Kimpun – Bago (tt)

Cặp vợ chồng người Đức kỳ lạ

Lần đầu tiên tôi gặp cặp vợ chồng này là ở đồi Sagaing, Mandalay. Lúc đó tôi chia taxi cùng 4 người bạn Tây Ban Nha. Chúng tôi từ đồi Sagaing đi xuống và ngồi đợi xe taxi của mình đến thì phía bên kia đường một chiếc taxi dừng lại. Từ trên xe bước xuống một cặp vợ chồng khoảng tuổi trung niên; họ gây ấn tượng bởi chiếc nón tre bé tí đội trên đầu. Mọi người ai trông thấy cũng buồn cười. Trông kiểu cách của họ, tôi đoán họ là người Pháp. Vì thế khi họ đi ngang qua tôi, tôi hỏi thì người chồng vui vẻ nói: Không tôi là người Đức. Người vợ đang đi đằng sau, bằng giọng thân thiện hỏi: Thế còn tôi? Tôi nói: Người Pháp. Bà ta cười nói: Tôi cũng là người Đức. Tôi cảm thấy họ tuy kỳ lạ nhưng thật đáng yêu.

Lần thứ hai tôi gặp họ là trên chiếc phà đi từ Mandalay về Bagan. Tôi muốn ngồi hàng ghế đầu nhưng hầu như không còn chỗ trống, chỉ còn một chỗ bên cạnh một người phụ nữ. Tôi hỏi: Ghế này có trống không? Bà ta trả lời với vẻ nghiêm túc: Không, ghế này là của chồng tôi. Khi người chồng bước đến ghế, ngồi xuống. Tôi cảm thấy họ rất quen nhưng không nhớ đã gặp họ ở đâu. Khoảng một tiếng đồng hồ sau, tôi mới nhớ ra họ chính là cặp vợ chồng người Đức với cái nón bé tí trên đầu mà tôi gặp ở đồi Sagaing ở Mandalay. Tôi à lên một tiếng và vì ngồi ngay sau lưng người chồng nên tôi khiều ông ta và nói: Ah, tôi nhớ ra là đã gặp ông bà ở Mandalay. Ông ta trả lời: Có thể. Người vợ thì không nói gì hết. Tôi có cảm giác họ không muốn nói chuyện nên thôi không nói chuyện với họ nữa.

Họ ngồi im, không nói chuyện với ai hết, kể cả không nói chuyện với nhau, chỉ nhìn nhau mỉm cười thôi. Tôi cảm giác hình như họ đang đi hưởng tuần trăng mật ấy nhỉ. Đến khoảng giữa trưa, ai cũng mệt mỏi nên mọi người nằm luôn xuống sàn tàu nghỉ ngơi. Anh chàng pêđê Thái Lan đi cùng anh chàng người yêu Mỹ đã trải sẳn một chỗ trên sàn nhưng họ không ở đó mà bỏ đi qua phía sau (mát mẻ hơn) ngồi. Thế là ông chồng Đức tranh thủ chiếm lấy nghỉ ngơi, sau đó bà vợ của ông ta thế chỗ. Vì ông ta ngồi hàng ghế trước nóng nên đẩy lùi ghế ra phiá sau, ngồi cạnh tôi. Mọi người đều chăm chú đọc sách hoặc ghi chép. Bà vợ thình lình mở mắt ra, thấy ông chồng ngồi cạnh tôi nên nói bằng tiếng Đức với ông chồng điều gì đó. Ông chồng kéo ghế lại ngồi ngay phía đầu nằm của bà vợ. Tôikhông hiểu họ nói gì nhưng có cảm giác rắng bà vợ ghen khi thấy ông chồng ngồi cạnh tôi chăng.

Đến khỏang cuối ngày khi tàu gần cập bến thì cặp vợ chồng này làm một chuyện mà ai cũng nhớ bởi vì rất buồn cười. Các người bạn Tây Ban Nha của tôi nhìn họ chằm chằm luôn, không ai thèm ý tứ với họ hết. Bà vợ lấy chai xịt muỗi ra và xịt khắp người mình và ông chồng như thể người ta xịt dầu thơm vậy đó. Bà ta còn xịt cả sau gáy và xịt luôn lên áo của mình và của chồng. Ai cũng buồn cười hết. Anh chàng Miguel người Tây Ban Nha thì cứ lố mắt nhìn họ. Nhưng họ cũng chẳng thèm để ý ai hết.

Lần thứ ba tôi gặp họ là trên chiếc xe buýt đi từ Bagan về Kalaw. Trên chuyến xe này, tôi quen thêm cô Aude người Pháp. Sau naỳ tôi mới biết, cô Aude cũng rất ấn tượng với họ ngay trong chuyến xe này bời vì Aude chào Hello với người vợ nhưng bà ta thậm chí không thèm trả lời dù là xả giao. Ấn tượng thứ hai là bà ta xứt kem chống nắng vào cả sau gáy, thoa thoa như thể người ta thoa dầu thơm vậy.

Lần tiếp theo tôi gặp họ là trong chợ ở Hồ Inlay. Tôi, Aude và Stefan đều cười vui vẻ khi kể về cặp đôi này. Tôi đoán tuổi họ khoảng 50, nhưng Stefan và Aude không đồng ý, nói rằng họ khoảng 40 thôi. Aude rất ghét người phụ nữ, nói rằng bà ta vừa xấu vừa “sảnh sẹ”. Tôi nói nếu tôi gặp lại họ tôi sẽ hỏi tuổi họ. Stefan nói sẽ hỏi họ rằng có phải họ đang đi hưởng tuần trăng mật hay không. Aude sẽ hỏi người chồng rằng ông ta mua cái cái nón ngộ nghĩnh của mình ở đâu. Mỗi người đều có một câu hỏi trong đầu để hỏi cặp vợ chồng khác người này.

Lần tiếp theo tôi gặp họ trong sự bất ngờ bởi tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ gặp họ ở đây. Tôi gặp họ khi đang làm thủ tục đăng ký vào nhà nghỉ ở Kimpun. Khi tôi đang trả tiền phòng thì họ bước vào để lấy chìa phòng. Tôi kinh ngạc đến độ há hốc ra nhìn và quên phắt sự lạnh lung của họ mỗi khi gặp chúng tôi, tôi nói: Xin chào! Dĩ nhiên họ chẳng buồn trả lời. Ôi giời! Đây là hai người Đức khác người nhất mà tôi từng gặp. Tôi nói với Aude và Stefan rằng nhất định lần sau mà gặp tôi sẽ chụp hình họ.

Rồi ngày cuối cùng của tôi tại Myanmar tôi bỏ thời gian lang thang ở chùa Shwedagon, khi đang giơ máy ảnh lên chụp hình thì tôi gặp lại họ một lần nữa ngay tại quầy bán vé. Không thèm ý tứ, tôi chĩa luôn maý ảnh về phía họ và chụp một pô. Khi kiểm tra lại, tôi thấy hình khá tối nên dự định chụp một tấm ảnh khác thì họ biến đâu mất tiêu. Thật tiếc là hình khá tối và họ laị không đội cái nón ngộ nghĩnh ở trên đầu. Tiếc thật!
Ảnh cặp vợ chồng người Đức

Tôi đi Myanmar – Kỳ 6: Kimpun – Bago (tt)

Kỳ trước: Tôi đi Myanmar – Kỳ 6: Kimpun – Bago

Bago – Thành phố có pho tượng Phật thiêng liêng nhất Myanmar

Xe chạy đến khoảng 4h thì đến nơi. Đi bộ về khu vực khách sạn ở Main Road. Lạ là ở đây các khách sạn đều nằm trên đưòng Quốc lộ Yangon-Mandalay. Vì thế cũng khá ồn ào. Khi vừa đến nơi tôi được một anh chàng Myanmar săn đón, dẫn vào khách sạn giới thiệu và sau khi tôi nhận phòng thì anh ta mới tiết lộ rằng anh là tài xế xe ôm và muốn tôi đi cùng anh ta vào sáng hôm sau để tham quan ½ ngày tại Bago. Nếu muốn thì buổi trưa tôi vẫn có thể đón xe lửa về lại Yangon. Thấy anh ta khá dễ thương, nói tiếng Anh khá. Đặc biệt là giá cho ½ ngày tham quan cũng khá mềm, chỉ có K5.000 và anh ta sẽ chỉ cách trốn vé vào cửa các ngôi chùa (ở Myanmar, tiền vé vào cửa các ngôi chùa ở đây do chính quyền quân phiệt nắm giữ nên thường khách du lịch khoái trốn vé và dĩ nhiên là có sự trợ giúp nhiệt tình của người địa phương rồi; dân Myanmar chẳng thích khách du lịch trả tiền cho chính phủ của họ tí nào). Tôi đồng ý và hẹn anh ta 7h sáng sẽ khởi hành.

Tối đó, tôi đi ra khu được xem là chợ đêm ở đây; thực sự chỉ lèo tèo vài gian hàng bán đồ ăn chiên xào thôi. Ở Bago hầu như chẳng có nightlife tí nào, vì thế ít có du khách nào ở đến 2 đêm. Tôi đi về nhà trọ ngủ để chuẩn bị cho ngày hôm sau.

Sáng 7h sáng chúng tôi khởi hành. Nơi dừng chân đầu tiên là chùa Kyaik Pun. Ngôi chùa này có 4 pho tượng Phật bán thân khá lớn nhìn ra bốn hướng. Chùa này có nguồn gốc cũng khá ấn tượng đấy. Sự ra đời của ngôi chùa có liên quan đến 4 chị em người Mon và bất kỳ ai trong số 4 chị em lấy chồng thì một trong những pho tượng sẽ gãy đổ. Khi tôi đến thì các bức tượng vẫn còn nguyên vẹn; như vậy cả 4 chị em này đều không lấy chồng chăng?
Các pho tượng tại chùa
Tiếp theo chúng tôi đến chùa Shwe Tha Lyaung. Chùa này có pho tượng Phật nằm khá lớn (dài 55 mét và cao 16 mét) và đây được xem là bức tượng Phật thiêng liêng nhất ở Myanmar. Tôi nghe anh chàng photographer người Canada kể trước đây có một nữ du khách Mỹ leo lên bức tượng này để chụp ảnh. Thế là cô ta bị bỏ tù 20 năm vì đã leo lên nơi thiêng liêng nhất của Myanmar chẳng khác nào đã bước lên cả dân tộc này. Cô ta bị toà án Myanmar kết án 20 năm tù. Không biết câu chuyện này thực hư thế nào nhưng nếu các bạn không muốn vào tù thì nhớ đừng bước lên tượng Phật để chụp ảnh nhé.
Pho tượng Phật nằm, thiêng liêng nhất Myanmar

 
Tại đây có cả một câu chuyện về nguồn gốc ngôi chùa được khắc vào bức tường ngay sau lưng bức tượng Phật khổng lồ bằng tiếng Miến và tiếng Anh. Ngoài ra, trên đường dọc lối vào, một bên tường có những bức tranh cũng kể về câu chuyện này; bên kia kể về những lần ngôi chùa được tu sửa.
Mặt tiền ngôi chùa
Tiếp theo chúng tôi đến một ngôi chùa khác, ngoài cổng viết bằng tiếng Miến nên tôi không đọc được. Bên trong ngôi chùa này có một toà tháp giống như tháp chàm ở Việt Nam. Trong toà tháp này là các pho tượng Phật.
Tháp Chàm trong chùa
Sau đó chúng tôi đến tượng Phật nằm, tượng này mô phỏng theo pho tượng khổng lồ ở trên nhưng được xây ngoài trời và hoàn thành vào năm 2001. Bàn chân Phật ở pho tượng này có khắc hình vẽ các câu chuyện về Đức Phật. 
Tượng Phật nằm ngoài trời
Bàn chân Phật
Tiếp theo chúng tôi đến chùa Maha Kalyani Sima, nơi đây có hình các pho tượng đang ngồi chờ nghe Phật thuyết pháp ngoài trời. Lần tiên sau 3 tuần ở tại Myanmar tôi mới được thấy cảnh những bức tượng các đệ tử Đức Phật được đặt ngoài vườn chờ nghe thuyết Pháp.
Một buổi học ngoài trời
 
Sau đó chúng tôi đến ngôi chùa nổi tiếng nhất ở đây bởi vì toà bộ toà tháp được xây bằng vàng ròng (toà tháp ở chùa Shwedagon ở Yangon cũng được xây bằng vàng ròng – số vàng này còn nhiều hơn số vàng trong ngân hàng của nước Anh – như vậy nước Myanmar chẳng nghèo tí nào) Nhưng vào thời điểm chúng tôi viếng thăm, toà tháp đang trong thời kỳ được lau chùi (định kỳ là 4 năm một lần), vì thế tôi không thể chụp ảnh toàn bộ toà tháp bằng vàng ròng được (may thay tôi chụp được toàn bộ toà tháp vàng ròng ở chùa Shwedagon ở Yangon). Dù vậy nhưng việc toà tháp nửa dưới màu vàng, nửa trên màu đen (do người ta bôi giấy đen và gắn cọc tre vào để thợ có thể làm việc) trông cũng khá ấn tượng.

Stupa bằng vàng ròng

Thợ đang làm công việc lau chùa bên trong
Sau đó chúng tôi đến Thiền viện Rắn (Snake Monestary) nơi đây có một con trăn thật to. Con trăn này được xem là hoá thân của vị sư trụ trì trước đây. Vì thế người dân rất tin tưởng và hay đến để cầu nguyện.
Con trăn tại Thiền viện
Trên đường đến một thiền viện khác để xem các nhà sư dùng bữa cơm trưa, tôi dừng lại một ngôi chùa trên đồi. Dù đã giữa trưa nhưng tôi vẫn chịu khó leo bộ lên chùa để có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố Bago. Sau đó lại leo xuống để kịp giờ chứng kiến cảnh các nhà sư dùng bữa trưa.
Cảnh Bago nhìn từ trên đồi

Kẻng báo hiệu giờ ăn trưa
Các tăng sĩ nhận phần cơm trưa
 
Thế là hết nửa ngày viếng thăm thành phố Bago cùng K5.000 trả cho tài xế xe ôm. Cũng đáng đồng tiền lắm các bạn ạ! Khi nào đến Bago, hãy thử tour này nhé.


Tôi đi Myanmar – Kỳ 6: Kimpun – Bago

Kỳ trước: Tôi đi Myanmar – Kỳ 5: Hồ Inlay (tt)

Đường lên Hòn Đá Thiêng (Golden Rock – Núi Kyaiktiyo)

Từ Sule Paya (Chùa Sule - trung tâm thành phố Yangon), để tiết kiệm tiền taxi, tôi đón xe buýt 43 (K200). Phải công nhận xe buýt ở đây giống tàu lượn (roller coaster) quá! Sau 1 tiếng 20 phút ê mông trên chiếc xe buýt tàu lượn này, tôi cũng đến được Bến xe Cao tốc (High Way Bus Station). Vừa nhảy xuống chiếc xe buýt tàu lượn, tôi “được” vây quanh bởi những người lái taxi. Chià vé xe buýt cho họ xem, tôi được dẫn thẳng đến trạm của công ty xe buýt. Làm thủ tục đăng ký (điền tên và số hộ chiếu vào bản sơ đồ ghế ngồi) xong, tôi mua một ít táo và quýt để ăn trên xe buýt. Phải công nhận ở đây táo và quýt Trung Quốc còn nhiều hơn cả ở Việt Nam. Sau một hồi chọn lựa những sản phẩm mà tôi nghĩ rằng được trồng tại Myanmar, tôi quay về trạm.

Đến giờ, mọi người lần lượt lên xe. Tìm mãi tôi mới thấy số ghế được viết trên thành xe, ngang với chỗ để đầu gối (bó tay!) Trái ngược với những chiếc xe buýt đêm lạnh như mùa đông Châu Âu, chiếc xe buýt này nóng như mùa hè ở Ấn độ. Tuy nhiên phong cảnh khá đẹp. Giống như ở Việt Nam, mỗi khi xe buýt dừng là có một quân bán hàng đội mâm đi vòng quanh xe buýt để rao hàng. Tuy nhiên đội quân này không được phép lên xe, chỉ đứng ở dưới đường rao thôi. Tôi cũng mua được một trái bắp nấu K200 ăn lót dạ.

Khoảng 4h chiều thì xe đến Kimpun. Bến xe là trước cửa một nhà hàng, vì thế vừa nhảy xuống xe là tôi đã được nhân viên của một khách sạn gần đấy chào đón. Không thích ở đây, tôi đi về phía Nhà nghỉ Pann Myo Thu. Nhà nghỉ này chỉ cần nhìn cũng đủ mê tít rồi. Khu vườn lan khá rộng và đẹp dẫn đến các phòng. Trong vườn có ghế xích đu cho khách ngồi ngắm lan. Giá phòng ở đây không bao gồm ăn sáng. Nếu muốn ăn sáng phải trả thêm 1 đô. Phòng đơn là 5 đô, phòng có 2 giường đơn là 8 đô (nếu tìm được bạn đồng hành để chia tiền thì nên chọn phòng này, vừa rẻ vừa có người nói chuyện).

Sau khi làm thủ tục đăng ký, tôi đi dạo quanh. Ở đây vào thời điểm này người bán nhiều hơn người người mua, các cửa hàng nằm san sát nhau, ở đây có 2 loại đặc sản mà những nơi khác ít thấy. Thứ nhất súng và dao găm, kiếm được làm bằng thân cây và ống tre (lạ nhỉ! Ngay chân núi đá thiêng mà lại bán toàn là súng ống; tôi nghe nói súng ống ở đây lại là thứ mấy nhà sư thích nhất mới ghê chứ.) Thứ hai là các loại mứt: mứt sung, mứt cà, mứt gừng, mứt cam, mứt cóc,….. Thị xã này hầu như chẳng có gì để xem ngoài những cửa hàng này, vì thế thường khách du lịch chỉ ở một đêm để sáng lên núi xem Đá Thiêng chứ ít ai ở lại lâu.

Nghe nói 6h sáng là có chuyến xe pick-up  (xe đưa rước) đầu tiên lên  núi rồi. 5h30 sáng, tôi dậy. Lóc cóc đến 6h cũng đến trạm pick-up (chỉ 2 phút đi bộ từ nhà nghỉ). Thấy một chiếc pick-up đầy nhóc người, tôi chạy đến cầu thang định leo lên thì bị đuổi xuống: “Foreigner, over there.” (Người nước ngoài, lại kia) Thế là tôi phải lên một chiếc pick-up gần như trống rỗng. Nghĩ sẽ chờ lâu nên tôi định vào nhà hàng gọi món điểm tâm thì một toán người địa phương kéo đến, tôi leo lên cùng với họ. Chờ cho đủ người, chúng tôi chờ mãi, chờ mãi. Đến khoảng 7h20 thì mới đủ người. Quái lạ là người địa phương không dồn vào một chiếc pick-up mà họ cứ ngồi rải rác trên những chiếc khác nhau, cuối cùng chiếc nào cũng gần đủ người và cuối cùng ai cũng phải chờ. Anh bạn người Bỉ ngồi kế bên bực quá nói: “Stupid people!” (Đồ ngu!) Cả người bản địa cũng bực mình. Cuối cùng tài xế của chúng tôi cũng quyết định cho xe lăn bánh dù xe vẫn còn 3-4 chỗ trống. 
Hình ảnh một pick-up truck được chụp từ chiếc pick –up của tôi
Xe chạy khỏang 20 phút thì dừng cho mọi người đi toa lét và mua nước uống. Tại đây từng người phải “ma rốc” tiền để trả. Đối với xe pick-up, người địa phương và nước ngoài trả tiền như nhau K1.500.

Khoảng 15 phút sau, chúng tôi lại lên đường. Khoảng đường này đúng là kinh người và chiếc pick-up như một chiếc tàu lượn siêu tốc thực thụ. Đường núi dốc, có những nơi quặt rất gấp. Mọi người ngồi vắt vẻo trên chiếc xe tải cũ kĩ gầm gú mỗi khi lên dốc và xịt khói đen xì mỗi khi xuống dốc. Hai bên dốc thẳng đứng. Chỉ cần tài xế chệt tay lái là có thể mọi người cùng nhau về Tây phương cực lạc rồi.

Một đoạn dốc kinh hoàng
 
Sau khoảng 30 phút “sống trong sợ hãi”, cuối cùng chúng tôi cũng đến nơi. Tại đây có dịch vụ khiêng kiệu dành cho những người không thể leo nổi đọan đường còn lại. Tôi chọn leo bộ bởi vì khoảng cách và độ dốc so với những ngọn núi ở Việt Nam thì chẳng thấm vào đâu, đặc biệt đưòng tráng xi măng sạch sẽ chứ không phải leo thang bộ như ở núi Yên Tử. Vì thế so ra ở đây leo núi chẳng thấm tháp gì so với ai đã từng leo Yên Tử ở Việt Nam. Leo khoảng 45 phút, vừa đi vừa nghỉ ngơi ngắm cảnh, tôi cũng đã đến nơi. Tại đây người nước ngoài phải trả 6 đô vào cửa và 2 đô cho máy ảnh. Đeo thẻ vào cửa vào người, tôi đi về phía Đá Thiêng. Ở đây đầy nhóc người cầu nguyện và không khí khá yên tĩnh, chắc không ai muốn làm ồn nơi Đá Thiêng, mọi người đến đây để cầu nguyện hoặc để thiền chỉ ngoại trừ vài người là ồn ào thôi. Chỉ có nam giới mới được vào cửa (có bảo vệ canh giữ nghiêm ngặt) để đến gần và chạm vào hòn Đá Thiêng. Tôi nghĩ lý do người ta nghiêm ngặt cấm phụ nữ vào là nếu để phụ nữ chạm tay vào, có thể hòn đá sẽ rơi xuống vực mất??? Vì thế có đến có đến 2 bảo vệ ngồi ngay cửa vào hòn Đá Thiêng để canh giữ. 
Đá thiêng
Hình ảnh một người dân (dĩ nhiên là đàn ông rồi) đang dán vàng vào hòn đá thiêng

Người dân đang cầu nguyện trước hòn đá thiêng
 
Đối diện hòn Đá Thiêng người ta xây một toà nhà được chia thành 2 phần, một bên cho nam và một bên cho nữ để ngồi cầu nguyện. Ngoài ra xung quanh khu vực này còn có khá nhiều bươm bướm bay đậu vào các hòn đá ở gần đấy. Ngoài ra ở đây có khá nhiều toà nhà thờ tượng Phật và xung quanh khu vực này có khá nhiều nhà hàng và cửa hàng bán hàng lưu niệm.


Sau gần 2 tiếng lang thang gần hòn đá thiêng, tôi “xuống núi” Lại K1.500 cho 45 phút trên “tàu lượn siêu tốc”. Lần này rút kinh nghiệm, tôi chọn ngồi ở băng ghế trước. Nơi đây có chỗ để chân rộng hơn và có nơi để tì vào nếu muốn đứng; vì vậy tôi có thể đứng lên để chụp hình những đường dốc thẳng đứng (tuy nhiên cũng khá nguy hiểm vì thế tôi không đề xuất mọi người làm theo cách này; nêú muốn thì nên một tay tì chặt vào thanh xe, một tay cầm chặt maý ảnh và không nên đội nón vì gió khá mạnh và xe lắc lư liên tục.)


Một chiếc pick-up chuẩn bị xuống núi
 
Xuống núi lúc khoảng 1h, tôi vẫn còn thời gian để đi về Bago nếu muốn bởi vì xe buýt khởi hành khoảng 2h. Quay về nhà trọ để lấy hành lý, tôi được anh chàng dễ thương ở đây dắt đến bến xe búyt gặp bạn anh ta ở đó. Vì thế thay vì trả K5.000 cho chuyến xe về Bago từ Kimpun, tôi chỉ trả có K4.000. Đúng là quen biết có khác. Hình như giá vé giao thông công cộng cho người nước ngoài ở đây là vô định, vì thế họ muốn lấy bao nhiêu tiền cũng được và sẳn sàng giảm giá nếu muốn. Ở Myanmar, làm ngươi nước ngoài thật lỗ bởi vì họ luôn phải trả tiền khi vào chùa và trả tiền hơn gấp nhiều lần so với người bản địa khi sử dụng giao thông công cộng. Ví dụ:

Kỳ sau: Tôi đi Myanmar – Kỳ 6: Kimpun – Bago (tt)

Người bản địa
Người nước ngoài
Phà qua sông Yangon
K10
K1.000
Xe buýt Yangon-Kimpun
K4.000
K8.000
Tàu lửa Bago-Yangon
K500
K2.000

Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010

Tôi đi Myanmar – Kỳ 5: Hồ Inlay (tt)

Kỳ trước: Tôi đi Myanmar – Kỳ 5: Hồ Inlay (tt)

Một ngày trên hồ Inlay

Thuê một chiếc motorboat (thuyền có gắn động cơ) giá K12.000, nhóm 3 người chúng tôi gồm tôi, Stefan (Bỉ) và Aude (Pháp) bắt đầu lên đường để khám phá hồ Inlay.

Đầu tiên chúng tôi đi ngang qua các khu vườn nổi (floating gardens) do người Intha trồng trọt, vào mùa này họ trồng khá nhiều cà chua. Người dân ở đây dùng rong rêu họ câu lên từ đáy sông để làm phân bón cho khu vườn của mình. Vườn được phân thành luống thẳng tắp trông khá đẹp. Khu vườn có cả cổng vào, du khách chỉ được tham quan và chụp hình bên ngoài cổng, không được vào trong vườn.
Vườn nổi (Floating gardens)
Một người đang vớt rong rêu dưới hồ để làm phân bón cho vườn nổi (floating gardens)
 
Sau đó chúng tôi đến làng Maing Thauk, hôm nay ở làng này có buổi họp chợ (ở đây, mỗi làng luân phiên họp chợ một ngày trong tuần). Wow, có khá nhiều gian hàng bán đồ lưu niệm dành cho du khách (hình như người dân ở đây quá quen thuộc với hình ảnh của những du khách ghé thăm chợ nên có rất nhiều gian hàng bán đồ lưu niệm). Tại đây tôi mua một gói xì gà, quấn bằng lá tự nhiên giá chỉ có K400 gồm 50 điếu, trong khi đó ở khu chợ gần chỗ tôi ở bán giá K700. Ngoài ra tôi còn mua được một ít cà chua (K100) được đem ra từ những khu vườn nổi, và 3 quả táo giá K500. Làng này có một cây cầu gỗ khá dài, nhưng so với cầu U Bein ở Mandalay thì thấp hơn và ngắn hơn. Ở khoảng giữa cầu có những trạm nghỉ chân cho khách qua đường có mái che và ghế ngồi khá mát mẻ và thoải mái. 
Chợ phiên
Sau đó chúng tôi được chở dọc theo sông để chụp hình những ngư dân Intha bắt cá và xem họ chèo thuyền bằng chân. Họ bắt cá như sau. Họ có thể dùng nom dài ghim xuống sông (nước sông ở đây không sâu lắm khoảng 1-2 mét) hoặc dùng lưới giăng xuống đáy sông. Sau đó để lùa cá vào lưới hoặc nom, họ dùng cây đập mạnh xuống mặt nước. Khi họ làm như vậy, cá sẽ hoảng sợ và bơi vào lưới. Để di chuyển, họ dùng một chân để chèo thuyền, chân còn lại thì trụ trên ghe, hai tay thì gở lưới để lấy cá. 
Ngư dân chèo thuyền bằng chân
Ngư dân quấn lươí để gỡ cá
 
Chúng tôi ghé thăm cơ sở sản xuất bạc U Hla Pe Family. Ở đây nơi sản xuất và phòng trưng bày ở trong một phòng nên mọi người sau khi xem cách thức sản xuất có thể mua thành phẩm ở phòng trưng bày luôn. Ở đây, Aude mua 1 dây chuyền và đôi bông cùng kiểu giá khoảng 40 đô.
Thợ đang khắc bạc
Một số thành phẩm
 
Chúng tôi đến chùa Phaung Daw OO để xem. Trong chùa hầu như chẳng nhận ra tượng Phật nữa bởi vì người dân đến khấn vái và đắp lá vàng lên thân tượng. Đặc biệt là chỉ có nam giới mới được dán trực tiếp lá vàng lên tượng, nữ giới chỉ đứng bên ngoài, không được vào trong. 
Toàn cảnh ngôi chùa
Sau đó, chúng tôi ghé vào làng Inpawkon để xem sản xuất vải từ sợi tơ ở thân cây sen. Để có được kg tơ sen, phải mất một tháng. Nhưng thành phẩm từ tơ sen không rẻ chút nào, 50 đô cho một khăn choàng cổ. Ở đây họ cũng sản xuất lụa và vải cotton. Vải cotton sản xuất ở đây tương tự như ở nhà máy sản xuất vải cotton ở Amapura, Mandalay mà tôi đã ghé thăm. Tóm lại các thàng phẩm ở đây chẳng hề rẻ.
Thợ đang lấy chỉ từ thân sen; để có được 1 kg chỉ này, họ phải mất một tháng để gỡ.
Thợ dệt vải từ chỉ sen
 
Ngoài ra chúng tôi còn được chở đến nơi được gọi là làng của người cổ dài (long-necked village). Thực ra chỉ có 3 người cổ dài ngồi dệt biểu diễn cho khách xem và chụp hình. Tôi nghĩ chúng tôi sẽ được đến làng của họ nhưng họ bảo làng của những ngưòi cổ dài ở xa lắm, không thể đến được. Ấn tượng của tôi là hình như người ta đem về 3 người cổ dài để nhằm biểu diễn cho du khách xem, sau đó bán đồ với giá cực mắc. Chẳng dại gì mà mua đồ ở những nơi như thế này.

Ngoài ra chúng tôi còn ghé thăm nơi sản xuất thuốc lá thiên nhiên. Ở đây chúng tôi được nhìn thấy cách quấn thuốc và gói thuốc. Nhưng thuốc lá ở đây cũng chẳng rẻ. Tôi mua một gói 50 điếu ở ngoài chợ giá chỉ có K400, trong khi ở đây họ bán đến K2.000. Khi tôi hỏi tại sao, họ bảo chất lượng khác nhau. Cũng có thể nhưng tôi không biết hút nên chẳng biết kiểm tra như thế nào. Ở đây người ta cũng bán đồ gỗ sơn (lacquerware), nhưng khác với ở Bagan là họ quấn tre bên ngoài nên lacquerware trông lạ hơn với nhiều màu sắc hơn.
Thuốc lá được quấn như thế này đây
lacquerware có vỏ bọc bằng tre
 
Cuối cùng chúng tôi đến Thiền viện mèo nhảy (Jumping-cat monastery). Ở đây người ta huấn luyện mèo để nhảy qua những cái vòng, giống như trong rạp xiếc, thay vì là khỉ hay voi nhảy qua vòng, ở đây là mèo nhảy vòng. Thiền viện còn có khá nhiều tượng Phật và các tượng đều được đặt trong một ngai vàng hoa văn rất đẹp.
Một trong những tượng Phật tại chùa
Các chú mèo nhảy đây
Trên đường trở về chúng tôi ngắm hoàng hôn trên hồ Inlay. May mắn hôm nay chúng tôi có một hoàng hôn rất đẹp và may mắn cho tôi là khi vừa chụp xong bức ảnh mặt trời lặn hẳn  xuống núi thì pin máy ảnh cũng vừa hết nên không bị lỡ dịp chụp cảnh hoàng hôn.
Hoàng hôn trên hồ Inlay
Tóm lại, một ngày đi chơi trên hồ thật vui dù buổi sáng và chiều khá lạnh, dù mặc áo khoác nhưng vẫn lạnh cóng cả người.


Tôi đi Myanmar – Kỳ 5: Hồ Inlay (tt)

Kỳ trước: Tôi đi Myanmar – Kỳ 5: Hồ Inlay

Nhà nghỉ của tôi tại Hồ Inlay

Nhà nghỉ này nằm xa hơn những nhà nghỉ khác một chút, bên ngoài là một khu vực khá đẹp, phòng nằm trên gác, dưới là sàn gỗ. Chúng tôi có 3 người nên quyết định lấy một phòng đôi (có 2 giường đơn) giá 14 đô, sau đó kê thêm 1 giường thêm 5 đô nữa, như vậy tổng cộng là 19 đô/ 3 người.

Điều đặc biệt là nhà nghỉ này có phòng thiền (meditation room), nhà hàng nơi mọi người ăn sáng có đầy hoa phong lan, khá đẹp. Mỗi người đều được phục vụ nước chanh miễn phí khi mới đến hoặc khi vừa đi chơi về. Trước phòng chúng tôi là một vườn phong lan. Phòng khá rộng vì vậy 3 người ở khá là thoải mái. Phòng tắm khá sạch sẽ, phòng có 3 cửa sổ: 1 cửa sổ lớn và 2 cửa sổ nhỏ. Hai cửa sổ nhìn ra vườn phong lan. Từ phòng đến sân phơi đồ khá thuận tiện. Vì thế tôi rất thích bởi vì tôi có thể phơi đồ thoải mái.

Ngay cầu thang là 2 thùng nước lọc cho mọi người uống miễn phí. Tại đây, có cả bản đồ miễn phí khu vực hồ và bản đồ dành cho người muốn đi dạo bằng xe đạp. Tôi nghĩ đây là một nơi khá thoải mái để ở. 
Một góc vườn của nhà nghỉ này
Nơi chúng tôi dùng bữa điểm tâm

Thứ Hai, 13 tháng 12, 2010

Tôi đi Myanmar – Kỳ 5: Hồ Inlay

 Kỳ trước: Tôi đi Myanmar – Kỳ 4: Bagan (tt)

Trekking (đi bộ) đến Hồ Inlay

Một du khách khi đến Myanmar thì không thể bỏ qua một trekking tour (tour đi bộ băng qua rừng, núi) nếu muốn biết về đất nước này một cách đầy đủ nhất. Đây là câu mà những du khách hay nói với nhau. Vì thế tôi cũng lọ mọ tham gia thử một trekking tour cho biết. Thường ở đây để đi trekking, du khách thường đi xe buýt đến Kalaw (xe búyt từ Bagan đến Kalaw, giá khoảng K10.500) sau đó tham gia vào 2-3 ngày trekking đến Inlay Lake.

Xe búyt của tôi khởi hành lúc 4h sáng tại Bagan và đến Kalaw vào lúc 1h trưa. Tại đây chúng tôi bị một đội quân quay quanh chào mời trekking tour. Tôi và một người Bỉ và một người Pháp cùng nhau đi về Nhà nghỉ Lily để tìm phòng ở, ở đây giá phòng cho một người là 3 đô Mỹ với toilet bên ngoài và 5 đô Mỹ với toilet bên trong. Ở đây chúng tôi hỏi về trekking tour thì được cho biết giá dành cho mỗi người là 10 đô Mỹ/ngày + K3.000 cho xe trung chuyển đến vị trí trekking + K4.000 vận chuyển hành lý đến Hồ Inlay trước (bởi vì chúng tôi chỉ cần mang theo một ba lô nhỏ đựng những vật dụng cần thiết, đây là tour trọn gói ăn ở) + K4.000 tiền đi ghe qua Hồ Inlay để về khu khách sạn. Tổng cộng mỗi người phải trả cho 2 ngày trekking là 20 đô Mỹ + K10.000 (nhờ tôi trả giá đấy chứ lúc đầu họ bảo 12 đô/ngày bởi vì giá trị đô la Mỹ ở đây đang bị giảm). Tuy nhiên tôi không có hành lý để gởi bởi vì tôi đã gửi balô lớn tại Yangon và ké vào ba lô của người bạn Bỉ một ít đồ. Thế là tôi có hành lý nhỏ gọn khoảng 3-4 kg trên lưng mà không tốn K4.000. Hehehe.

Sáng hôm sau, chúng tôi dậy sớm, ăn sáng tại khách sạn xong khoảng 7h30. Tôi tranh thủ đi ra chợ địa phương tại Kalaw để xem. Lúc này chợ chưa dọn hàng xong, hầu như chẳng thấy khách mua hàng, nhiều gian hàng còn chưa mở cửa. Hơi ngạc nhiên!!! Chợ gì mà 7h30 mà chưa dọn hàng nữa nhỉ?

Khoảng 8h30, chúng tôi ra xe để cùng đi đến điểm trekking. Do chúng tôi đến trễ một ngày nên những người đi trekking 3 ngày đã lên đường, vì thế chúng tôi phải đến điểm tập hợp để cùng đi với nhóm người này vào ngày thứ 2. Khoảng 9h15 nhóm trekking 3 ngày đến nơi: nhóm tôi gồm tôi, anh chàng Stefan người Bỉ và cô Aude người Pháp; nhóm trekking trước gồm 1 cô sinh viên người Đức (cô nàng này vừa trải qua kỳ thực tập 5 tuần tại Hà Nội), 1 người Nauy (sau khi nghe tôi kể về Việt Nam đã thay đổi kế hoạch, muốn dành 2 tuần cuối của kỳ nghỉ để đến Việt Nam), một cặp người Bỉ (họ không nhận mình là vợ chồng mà gọi nhau là traveling partners – bạn đi du lịch), một cặp người Israel mà tôi chia tiền taxi đến bến tàu tại Mandalay. Vậy là cuối cùng 9 khách du lịch, 2 hướng dẫn cùng 1 đầu bếp (đã đi trước đến điểm nghỉ ngơi để chuẩn bị bữa ăn trưa cho mọi người) lên đường.
Điểm tập kết
 
Phong cảnh khá đẹp nhưng nếu so với trekking của Sapa, Việt Nam thì thua xa. Chính cô sinh viên người Đức đã cho tôi biết điều này. Tôi cũng công nhận rằng phong cảnh ruộng bậc thang của Việt Nam thì không đâu sánh bằng.
Anh chàng Harry (hướng dẫn của chúng tôi) khá là thân thiện và đẹp trai nữa. Anh chàng gốc người Ấn độ, thuộc tôn giáo Sik (một tôn giáo có thánh đường là Golden Temple tại Amristar, Ấn độ; tôi đã ở tại thánh đường này 3 ngày: đó là một tôn giáo rất hay, xem mọi người là bình đẳng, không có tầng lớp, giai cấp; người Ấn ở đây khác với người Ấn ở những nơi khác, khá đáng yêu và thân thiện.

Trên đường đi chúng tôi nói chuyện khá nhiều và làm quen lẫn nhau. Khoảng 12h45, chúng tôi đến một ngôi làng nơi chúng tôi dừng chân để ăn trưa. Tại đây chúng tôi được ăn súp bông cải nấu với gừng, sau đó mỗi người được phát được điã mì ăn cùng rau xào thập cẩm, cũng khá ngon bởi vì chúng tôi khá đói bụng, sau đó ăn la sét – cam. Mọi người tranh thủ ngủ trưa đến khoảng 2h30, lại tiếp tục lên đường. Phong cảnh cũng tương tự như những gì chúng tôi đã thấy. Thỉnh thoảng chúng tôi có dừng chân để nói chuyện với những người địa phương, đặc biệt là 5 cô bé người dân tộc đang gùi cỏ về nhà. Thấy chúng tôi, cả 5 dừng lại nghỉ ngơi; vì thế chúng tôi tranh thủ chụp hình; trong đó có một cô bé khá xinh mà tôi nghĩ sau này có thể trở thành hoa hậu của khu vực.
 
Sau đó chúng tôi đi tiếp đến khoảng 5h20 chiều thì đến thiền viện nơi chúng tôi sẽ ăn tối và ngủ. Mọi người tranh thủ đến ngôi làng gần đó mua nước uống và trò chuyện trong khi chờ bữa ăn tối, những người khác thì tranh thủ tắm sau một ngày đi đường bụi bặm. Tôi không thể tắm do thời tiết ở đây khá lạnh vì thế vào bếp vừa sửa ấm vừa xem đầu bếp chuẩn bị bữa ăn tối.
Thiền viện nơi chúng tôi ngủ qua đêm

Chúng tôi được ăn một bữa thịnh soạn ngay tại hành lang trước cửa thiền viện. Chúng tôi được ăn món súp nhẹ. Sau đó món chính có món salad là dưa trộn, đậu xào cà rốt, đậu bắp xào, khoai tây nấu gà và một món thập cẩm đủ loại rau củ. Sau khi no căng bụng chúng tôi được ăn la sét đồ ngọt (giống như kẹo mè đậu phộng của Việt Nam). Sau đó là một món lasét rất đặc biệt, đó là món chuối được lột ra sẳn sắp lên dĩa, sau đó bật quẹt ga lên, và người ăn dùng muỗng lăn quả chuối cho chín đều, sau đó tắt lửa đi và thưởng thức, khá lạ và ngon.
Món chuối lăn hơi lửa khá lạ mắt
Sau khi ăn xong mọi người trò chuyện đến khoảng 8h thì điện bắt đầu tắt và mọi người đáng răng rửa mặt để đi ngủ, không còn điện nên mọi người phải sử dụng đèn pin để đi toa lét. Bầu trời đầy sao thật đẹp! Vì thế đoạn đường từ thiền viện đến toa lét cũng thật lãng mạn (dù hơi tối). Mọi người đều ngủ chung nhau giống như dorm, mỗi người một tấm nệm, gối và chăn. Ban đêm ở đây khá lạnh, trước đó quên hỏi thêm chăn, vì thế tôi đã không thể ngủ ngon bởi vì trời khá lạnh, co ro mãi cũng thiếp đi một chút nhưng lạnh quá phải tỉnh ngủ, sau đó lại thiếp đi. Chập chờn như thế đến khoảng 5h sáng thì các chú tiểu bắt đầu dậy đọc kinh. Mơ màng đến khoảng 6h30 thì tôi và mọi người lục đục dậy rửa mặt và chờ ăn sáng. Chúng tôi được dọn món chappati ăn cùng salad bơ, lasét có đu đủ, cam và quýt. Khá ngon!

Sau đó mọi người rủ nhau vào gặp sư trụ trì để cúng dường, có người cúng 5đô la, có người cúng 10 đô la. Trước đó, tôi đã vào cúng dường và được đeo một sợi dây may mắn; tôi được sư trụ trì tặng một bức tranh do chính tay Ngài vẽ, sau đó Ngài nhờ tôi chuyển giùm một bức thư cho người bạn Việt Nam của Ngài tại Đà Nẳng.
Những người đi trekking cùng tôi đang được đeo dây may mắn và được chúc phúc
Các chú tiểu tại thiền viện này
 
Sau khi tôi làm lễ cúng dường xong thì những người bắt đầu vào cúng dường, mỗi người đều được đeo một sợi dây may mắn, không ai được sư trụ trì tặng tranh cả.

Khoảng 8h20, mọi người bắt đầu lên. Hôm nay đoạn đường dễ đi hơn hôm trước, ít phải lên dốc hơn, chỉ khoảng ½ giờ đầu là leo dốc, sau đó chỉ toàn xuống dốc. Phong cảnh cũng tương tự như ngày hôm trước. Chúng tôi đến làng, nơi ăn trưa nghỉ ngơi và xuống thuyền đi đến khách sạn là khoảng 12h20. Mọi người được ăn món cơm nấu theo kiểu của người Shan (cơm gạo dẻo nấu cùng xì dầu và trứng, ăn chung với cà chua). Ăn xong thì mọi người chuẩn bị xuống tàu. Theo quy định, bất cứ du khách nào khi đến Hồ Inlay đều phải đóng 5 đô la Mỹ cho chính phủ. Nhưng Harry, hướng dẫn của chúng tôi, dặn dò rằng nếu nói với người thu tiền rằng chúng tôi chỉ đi tham quan hồ, sau đó về Kalaw thì mọi người chỉ đóng 2 đô thôi, và không có vé. Có du khách lo lắng hỏi nếu lỡ có người soát vé ở làng Inlay thì sao. Harry nói rằng không ai soát vé cả, họ chỉ thu tiền sau đó mặc du khách đi đâu thì đi. Vậy là thay vì trả 5 đô, mỗi người chúng tôi chỉ trả 2 đô.

Sau đó mọi người xuống tàu. Mỗi tàu để sẳn 5 ghế và có 5 aó phao trên ghế, có cả 5 cái dù để mọi người che nắng và che cho tránh bị nước bắn vào người khi có tàu đi ngược chiều. Nhưng thực sự không ai trong chúng tôi sử dụng dù cả. Lúc đầu, hồ trông giống như bất kì hồ nào ở Việt Nam. Sau đó khi đến khu vực ăn thông ra biển thì hồ trông giống như biển vậy. Điều đặc biệt nhất là ở đây có floating garden (người dân làm trang trại trồng rau ngay trên hồ). Khu vườn nay không cần tưới nước bởi vì rễ được gieo thẳng xuống hồ, người làm vườn chèo thuyền đi thăm vườn mỗi ngày và ngay trên nhà là ngôi nhà nhỏ dành cho những người làm vườn ở. Sau khoảng 1 tiếng rưỡi trên thuyền, chúng tôi đến nơi. Mọi người cùng nhau tìm khách sạn ở. Chúng tôi gồm 3 người: tôi, Aude và Stefan quyết định cùng nhau ở trong một phòng giá $19 tại Nhà nghỉ Min La Bar.
Chúng tôi đi qua hồ Inlay bằng chiếc tàu này