CÁCH SỬ DỤNG BLOG NÀY

1. Đi tượng đc gi:1. Nhng bn tr có máu phiêu lưu thích chu du x người trong thi gian dài nhưng vi s tin ti thiu nht có th; 2. Nhng người có tâm hn rng m, sn sàng dp cái tôi và quan đim ca mình sang bên đ tiếp nhn nhng quan đim mi.


2. Quan đim: Bn suy nghĩ khác tôi không có nghĩa là bn đúng, tôi sai hay tôi đúng, bn sai. Bn suy nghĩ khác tôi bi vì tôi và bn không ging nhau. The meaning of life is not in trying to find out who is right, who is wrong; the meaning of life is in accepting each other's differences.


3. Phương tin: "Vi bát cơm ngàn nhà; Mt mình muôn dm xa; Chn chn không phi nhà; Ch nào cũng là nhà."

4. Ni dung: Bao gm nhiu lĩnh vc mà tôi quan tâm 1. Du lch bi (Budget Travelling) 2. Sng ti gin (Minimalism) 3. Tái chế và tái s dng (Upcycle & Repurpose) 4. Tâm linh (Spirituality) 5. Triết lý cuc sng

Chủ Nhật, 21 tháng 7, 2013

KINH LỜI DẠY ĐẦU TIÊN – KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN (DHAMMACAKKAPPAVATTANA SUTTA)



Tôi nghe như vầy: sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn chuyển bánh xe Pháp luân đầu tiên tại vườn Nai. Tại đây, Ngài dạy năm vị Tỳ kheo đầu tiên rằng:

-        Này các Tỳ kheo, có hai cực đoan mà người xuất gia phải tránh xa. Một là đắm nhiễm các dục thấp hèn, thô bỉ, phàm tục, không dẫn đến đức hạnh thánh nhân, không liên hệ đến mục đích tu tập. Hai là tự làm khổ mình bằng các lối tu khổ hạnh ép xác, không thích hợp với những phẩm hạnh bậc Thánh, không dẫn đến mục đích giải thoát.

-        Này các Tỳ kheo, vị hành giả có chánh trí phải loại bỏ hai cực đoan vô ích này. Hãy đi theo con đường Trung Đạo do Như Lai chứng ngộ, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật, dẫn đến an tịnh, thánh trí, giác ngộ và Niết Bàn.

-        Này các Tỳ kheo, con đường Trung Đạo, chính là tám con đường chánh: Quan điểm chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, nổ lực chân chánh, ý niệm chân chánh và thiền định chân chánh.

-        Này các Tỳ kheo, sau đây là bốn chân lý vi diệu của cuộc đời:

Chân lý thứ nhất là thực tại khổ đau. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà phải xa nhau là khổ, thù ghét mà phải gặp nhau là khổ, mong cầu mà không toại nguyện là khổ và chấp vào năm nhóm nhân tính (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là khổ.

Chân lý thứ hai là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là phiền não nhiễm ô, là tâm ái dục, là sự tham đắm và chấp thủ về cái ta, cái của ta, là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.

Chân lý thứ ba là Niết bàn, tức là sự trừ diệt hoàn toàn gốc rễ của đau khổ và những nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Đó là sự ly tham, sự từ bỏ, sự giải thoát và không còn chấp trước.

Chân lý thứ tư là con đường dẫn đến Niết bàn, đó là tám con đường chân chánh, là con đường Trung Đạo.

-        Này các Tỳ kheo, cần phải liễu tri về thực tại khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự thật. Này các Tỳ kheo, cần phải trừ diệt hoàn toàn gốc rễ đến khổ đau. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật. Này các Tỳ kheo, cần phải tu tập trọn vẹn con đường dẫn đến Niết Bàn. Đó là điều trước đây ta chưa từng được nghe, nay ta đã khám phá, có khả năng đem lại pháp nhãn và trí tuệ thấu rõ sự vật.

Như vậy, này các Tỳ kheo, chỉ khi nào tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn chân lý vi diệu của cuộc đời dưới ba sắc thái gồm mười hai khía cạnh đã trở nên hoàn toàn sáng tỏ, thì khi ấy Như Lai mới xác nhận với Thế gian, gồm chư thiên, ma vương, Phạm thiên, giữa các đoàn thể Sa môn, Bà la môn, giữa loài trời và loài người rằng: Như Lai đã chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tâm Như Lai đã giải thoát và an tịnh tuyệt đối, đời sống này là đời sống cuối cùng. Như lai không còn bị luân hồi sanh tử nữa.

Khi bánh xe Pháp đầu tiên này được Như Lai vận chuyển, tuyên bố, các hàng chư thiên trên địa cầu đều cung kính khen ngợi: “Pháp môn này thật là vi diệu. Không có Bà La môn, Sa môn, Chư thiên, Ma vương hay Phạm Thiên nào có thể thuyết giảng được. Đây là chân lý vi diệu vừa được đấng giác ngộ khám phá và truyền bá, đem lại an lạc và hạnh phúc cho loài trời, loài người.

Lúc ấy, các chư thiên ở cõi trời Tứ đại Thiên vương, cõi trời Đao Lợi, trời Dạ ma, trời Đâu Suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Đại Phạm, trời Thiếu Quang, trời Vô Phiền và các chư thiên, Phạm Thiên cũng đều đồng thanh khen ngợi vài lần như vậy.

Trong khoảng thời gian ấy, mười ngàn thế giới đều chấn động và vang rền tiếng Pháp, rồi một luồng hào quang rộng lớn, rực rỡ phát chiếu, làm sáng cả vũ trụ. Ngay thời pháp này, tôn giả Kiều Trần Như đã giác ngộ và được Đức Phật xác chứng là A Nhã Kiều Trần Như.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

(trích từ Kinh Tụng Hằng Ngày của Đại Đức Thích Nhật Từ - Tủ sách Đạo Phật Ngày Nay)

Bài liên quan: KINH LỜI DẠY SAU CÙNG  

Thế nào là một Tỳ kheo chói sáng????????????



Tôn giả Sariputta (Xá Lợi Phất) hỏi: Hạng Tỳ kheo nào có thể làm chói sáng khu rừng Gosinga???

Tôn giả Ananda trả lời: Tỳ kheo nghe nhiều, gìn giữ điều đã nghe, tích tụ điều đã nghe. Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, nói lên phạm hạnh hoàn toàn thanh tịnh, những pháp ấy được vị ấy nghe nhiều và gìn giữ kỹ, được lặp lại lớn tiếng, được ý tư duy, được tri kiến khéo quán sát; vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng với văn cú viên dung, lưu loát, với mục đích đoạn trừ mọi tùy miên.

Tôn giả Revata trả lời: Tỳ kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch.

Tôn giả Anuruddha trả lời: Tỳ kheo với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, quán sát ngàn thế giới.

Tôn giả Maha Kassapa (Đại Ca Diếp) trả lời: Tỳ kheo tự mình sống ở rừng núi và tán thán hạnh sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạnh tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến.

Tôn giả Maha Moggallana (Đại Mục Kiền Liên) trả lời: Hai tỳ kheo đàm luận về Abhidhamma (A Tỳ Đàm); các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục.

Tôn giả Sariputta (Xá Lợi Phất) trả lời: Tỳ kheo điều phục được tâm, không phải Tỳ kheo không điều phục được tâm. An trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi sáng, vị ấy an trú quả ấy vào buổi sáng; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi trưa, vị ấy an trú quả ấy vào buổi trưa; an trú quả nào vị ấy muốn an trú vào buổi chiều, vị ấy an trú quả ấy vào buổi chiều.

Thế Tôn trả lời: Tỳ kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực về, ngồi kiết già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, nghĩ rằng: “Ta sẽ không bỏ ngồi kiết già cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ.”

(Trích Đại Kinh Rừng Sừng Bò (Mahagosinga Sutta), Kinh Trung Bộ II (31-60))

Chú thích của tôi về các vị tôn giả được kể tên ở trên (câu trả lời của từng vị là theo hạnh tu và sở trường của từng người):

Tôn giả Sariputta (Xá Lợi Phất): là một trong hai cánh tay đắc lực của Đức Phật (người kia là Đại Mục Kiền Liên), được xem là Đệ Nhất Trí Tuệ.

Tôn giả Ananda (A Nan Đà): là em họ của thái tử Sĩ Đạt Ta, là thị giả của Đức Phật, là người luôn ở cạnh Ngài và nghe tất tần tật mọi bài thuyết pháp của Ngài.

Tôn giả Revata: em trai út của Ngài Xá Lợi Phất, bỏ trốn trên đường rước dâu, lúc ấy Ngài mới có 7-8 tuổi, và sống một mình ẩn dật nơi rừng sâu, đắc quả A La Hán 1 tháng sau đó. Ngài không sống trong hội chúng, một mình nơi tịch tịnh ngay cả sau khi đắc quả Thánh.

Tôn giả Anuruddha: Ngài đắc chứng phép thần thông là thiên lý nhãn.

Tôn giả Maha Kassapa (Đại Ca Diếp): được xem là Đệ Nhất Khổ Hạnh Đầu Đà, Ngài và các đệ tử của Ngài tu khổ hạnh, luôn sống ở ngoài trời.

Tôn giả Maha Moggallana (Đại Mục Kiền Liên): được xem là Đệ Nhất Thần Thông, là một trong hai cánh tay đắc lực của Đức Phật (người kia là Ngài Xá Lợi Phất – hai Ngài là bạn rất thân của nhau, cùng sanh một thời điểm, cùng bỏ nhà trốn đi tu một lúc, quy y Phật cùng một ngày và trở thành cánh tay mặt và cánh tay trái của Đức Phật), nổi tiếng thông thuộc bộ A tỳ đàm (Abhiddhamma).

Thế Tôn: chính là ông Phật, Người đã bỏ cả đời ra để chỉ khuyên mọi người đúng một câu: “Các con hãy hành pháp của Ta ngay, không nên lãng phí cuộc sống của mình nữa!”


THẾ NÀO LÀ TU???????????



Đây là câu trả lời của Đức Phật trong Đại kinh Saccaka (Mahasaccaka Sutta), Kinh Trung Bộ I (1-30).

Thế nào là thân không tu và tâm không tu?

Kẻ vô văn phàm phu khởi lên lạc thọ. Người này được cảm giác lạc thọ, liền tham đắm lạc thọ và rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ. Người ấy, do cảm giác khổ thọ, nên sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Lạc thọ ấy khởi lên cho người kia, chi phối và an trú, do thân không tu tập. Khổ thọ ấy khởi lên chi phối tâm và an trú, do tâm không tu tập.

Đó là người có thân và tâm không tu tập.

Thế nào là thân tu tập và tâm tu tập?

Ở đây lạc thọ khởi lên cho vị Thánh đệ tử nghe nhiều. Vị này được cảm giác lạc thọ, nhưng không tham đắm lạc thọ, không rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ, vị ấy cảm giác khổ thọ nhưng không sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh. Lạc thọ khởi lên cho vị ấy, không chi phối tâm và không an trú, do thân có tu tập. Khổ thọ khởi lên cho vị ấy, không chi phối tâm và không an trú, do tâm có tu tập.

Đó là người có thân và tâm tu tập.

NGHỆ THUẬT SỐNG: THIỀN VIPASSANA S.N. Goenka 

TỪ BI KINH



Người hằng mong an tịnh
Nên thể hiện pháp lành
Có khả năng, chất phác
Ngay thẳng và nhu thuận
Hiền hòa, không kiêu mạn.

Sống dễ dàng, tri túc
Thanh đạm, không rộn ràng
Lục căn luôn trong sáng
Trí tuệ càng hiển minh
Chuyên cần, không quyến niệm.

Không làm việc ác nhỏ
Mà bậc trí hiền chê
Nguyện thái bình, an lạc
Nguyện tất cả sinh linh
Tròn đầy muôn phúc hạnh

Chúng sanh dù yếu mạnh
Lớn, nhỏ hoặc trung bình
Thấp, cao không đồng đẳng
Hết thảy chúng hữu tình
Lòng từ không phân biệt
Hữu hình hoặc vô hình
Đã sinh hoặc chưa sinh
Gần xa không kể xiết
Nguyện tất cả sinh linh
Tròn đầy muôn phúc hạnh.

Đừng lừa đảo lẫn nhau
Chớ bất mãn điều gì
Đừng mong ai đau khổ
Vì tâm niệm sân si
Hoặc vì nuôi oán tưởng.

Như mẹ giàu tình thương
Suốt đời lo che chở
Đứa con một của mình
Hãy phát tâm vô lượng
Đến tất cả sinh linh.

Từ bi gieo cùng khắp
Cả thế gian khổ hải
Trên, dưới và quanh mình
Không hẹp hòi, oan trái
Không hờn giận, oán thù.

Khi đi đứng ngồi nằm
Bao giờ còn tỉnh thức
Giữ niệm từ bi này
Thân tâm thường thanh tịnh
Phạm hạnh chính là đây.

Ai xả ly kiến thủ
Có giới hạnh nghiêm trì
Đạt chánh tri viên mãn
Không ái nhiễm dục trần
Thoát ly đường sanh tử.

KINH LỄ BÁI SÁU PHƯƠNG (Singalovada Sutta)



Tôi nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn trú tại chùa Trúc Lâm gần thành Vương Xá. Vào buổi sáng Ngài đắp y mang bát đi khất thực. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn trông thấy thanh niên Sin Ga La lễ bái sáu phương đông tây nam bắc trên dưới, Ngài hỏi tại sao làm thế. Sin Ga La trả lời: Khi thân phụ lâm chung nhắn nhủ phải thường lễ bái sáu phương.

Đức Thế Tôn dạy rằng: Cách thức lễ bái sáu phương trong đạo lý Thánh hiền không giống như vậy.

Thanh niên Sin Ga La thỉnh cầu Đức Phật giảng dạy đạo lý ấy.

Đức Phật dạy rằng:

Này gia chủ, phương đông được hiểu là cha mẹ.
Phương nam được hiểu là thầy tổ.
Phương tây được hiểu là người hôn phối.
Phương bắc được hiểu là bạn bè.
Phương dưới được hiểu là người giúp việc.
Phương trên được hiểu là sa môn.

Này gia chủ, đối với phương đông, tức là cha mẹ, người con nên làm năm việc:
Một là phụng dưỡng cha mẹ.
Hai là làm công việc thay cha mẹ.
Ba là gìn giữ gia phong.
Bốn là khéo quản trị tài sản thừa kế.
Năm là tạo phước hồi hướng.

Đáp lại, đối với con, cha mẹ nên làm năm việc:
Một là ngăn con không làm điều ác.
Hai là dạy con làm việc lành.
Ba là hướng dẫn nghề nghiệp.
Bốn là tác thành gia thất.
Năm là trao tài sản thừa kế khi thích hợp.

Đó là cách lễ bái phương đông, tức đạo nghĩa cha mẹ con cái. Làm như vậy được an lạc, không gì lo lắng.

Này gia chủ, đối với phương nam, tức thầy tổ, người học trò nên làm năm việc:
Một là giữ lòng kính trọng.
Hai là quan tâm chăm sóc.
Ba là chăm chỉ học hành.
Bốn là đáp ứng khi cần.
Năm là hấp thụ những gì được truyền dạy.

Đáp lại, đối với trò, thầy nên làm năm việc:
Một là dạy trò những chuyên môn của mình.
Hai là dùng phương pháp dễ hiểu.
Ba là không giấu nghề.
Bốn là giới thiệu tiến thân.
Năm là bố trí an toàn cho trò.

Đó là cách lễ bái phương nam, tức đạo nghĩa thầy trò. Làm như vậy được an lạc, không gì lo lắng.

Này gia chủ, đối với phương tây, tức người hôn phối thì người chồng nên làm năm việc:
Một là đối xử hòa ái.
Hai là không bạc đãi khinh khi.
Ba là một dạ thủy chung.
Bốn là giao quyền nội chính.
Năm là tùy khả năng mua sắm tư trang cho vợ.

Đáp lại, đối với chồng, vợ nên làm năm việc:
Một là quán xuyến công việc gia đình.
Hai là cư xử với hai họ một cách đồng đều.
Ba là một lòng tiết hạnh.
Bốn là gìn giữ tài sản.
Năm là cần mẫn trong bổn phận.

Đó là cách lễ bái phương tây, tức đạo nghĩa vợ chồng. Làm như vậy được an lạc, không gì lo lắng.

Này gia chủ, đối với phương bắc tức là bạn bè nên làm năm việc:
Một là rộng rãi.
Hai là nhã nhặn.
Ba là quan tâm lợi ích của bạn.
Bốn là đồng cam cộng khổ.
Năm là thành thật.

Đáp lại, đối với một bạn tốt nên làm năm việc:
Một là cảnh giác bạn trước những cám dỗ.
Hai là giữ hộ tài sản khi bạn sa ngã.
Ba là làm nơi nương tựa cho bạn lúc sa cơ.
Bốn là không bỏ bạn lúc nguy biến.
Năm là cư xử tốt với người thân của bạn.

Đó là cách lễ bái phương nam, tức đạo nghĩa bạn bè. Làm như vậy được an lạc, không gì lo lắng.

Này gia chủ, đối với phương dưới tức người giúp việc thì người chủ nên làm năm việc:
Một là không giao việc quá sức.
Hai là trả thù lao tương xứng.
Ba là chăm sóc khi đau yếu.
Bốn là chia sớt món ngon vật lạ.
Năm là không bắt làm việc quá giờ.

Đáp lại, đối với người chủ, người giúp việc nên làm năm việc:
Một là thức trước chủ.
Hai là ngủ sau chủ.
Ba là không lấy những thứ không cho.
Bốn là siêng năng làm việc.
Năm là giữ tiếng tốt cho chủ.

Đó là cách lễ bái phương dưới, tức đạo nghĩa chủ tớ. Làm như vậy được an lạc, không gì lo lắng.

Này gia chủ, đối với phương trên, tức sa môn thì người cư sĩ nên làm năm việc:
Một là cử chỉ thân thiện.
Hai là lời nói thân thiện.
Ba là tư tưởng thân thiện.
Bốn là luôn mở rộng cửa đón tiếp.
Năm là cúng dường tứ sự.

Đáp lại, đối với cư sĩ, sa môn nên làm năm việc:
Một là hướng dẫn cư sĩ xa điều ác.
Hai là hướng dẫn cư sĩ làm việc lành.
Ba là luôn cư xử với tâm từ ái.
Bốn là giảng giải đạo lý tường tận.
Năm là chỉ đường an vui đời sau.

Đó là cách lễ bái phương trên, tức đạo nghĩa tăng tục. Làm như vậy được an lạc, không gì lo lắng.

Nghe Thế Tôn dạy như vậy, thanh niên Sin Ga La bày tỏ niềm hoan hỷ: Thật vi diệu, bạch Thế Tôn, chánh pháp được giảng dạy như người lật lên những gì bị úp xuống, phơi bày những gì bị che phủ, chỉ đường cho người lạc lối, đem ánh sáng vào chỗ tối. Con xin quy y Phật; Con xin quy y Pháp; Con xin quy y Tăng. Ngài nhận biết cho con là đệ tử từ nay cho đến trọn đời.