CÁCH SỬ DỤNG BLOG NÀY

1. Đối tượng độc giả hướng đến là những bạn trẻ có máu phiêu lưu thích chu du xứ người trong thời gian dài nhưng với số tiền tối thiểu nhất có thể; ngoài ra đối tượng còn là những người có tâm hồn rộng mở, sẳn sàng dẹp cái tôi và quan điểm của mình sang bên để tiếp nhận những quan điểm mới và là người biết tôn trọng công sức của người khác. Nếu không thuộc hai nhóm đối tượng trên thì xin mời qua blog khác hay trang web khác mà chơi. Tôi không cần nhiều độc giả; chỉ cần người đọc có tâm mà thôi.

2. Toàn bộ blog được viết là của cùng một chuyến đi kéo dài vài năm và được viết theo dạng nhật ký nên ý tưởng có đôi lúc lộn xộn. Mong mọi người thông cảm!!! Đa phần nhật ký ghi chép của từng quốc gia nằm trong những mục có tiêu đề "Tôi đi......(tên quốc gia). Những mục khác thì theo chủ đề để cho bạn đọc dễ tra cứu.

3. Do tôi là người viết duy nhất của blog này và lại viết trong quá trình đang đi nên bỏ không ít công sức, thời gian và phải chiến đấu với cả bệnh lười để cập nhật thông tin trên blog nên mong mọi người tôn trọng bằng cách hãy đọc kỹ trước khi quyết định đặt câu hỏi mà hỏi điều gì nhé!!! Thứ nhất là tôi không nhớ thông tin mà trả lời; thứ hai là tôi cũng không có thời gian tra lục lại. Tuy nhiên khi "bí" quá thì có thể hỏi các bạn nhé!!!

4. Câu trả lời cho câu hỏi mà tôi vô cùng căm ghét nhưng nhiều người lại thích hỏi. Câu hỏi: "Khi nào về Sài Gòn / Việt Nam?" Câu trả lời: "Ra đi không hẹn ngày về; Khi chưa hết "máu", chưa về cố hương."

5. Bạn suy nghĩ khác tôi không có nghĩa là bạn đúng, tôi sai hay tôi đúng, bạn sai. Bạn suy nghĩ khác tôi bởi vì tôi và bạn không giống nhau. The meaning of life is not in trying to find out who is right, who is wrong; the meaning of life is in accepting each other's differences.

6. "Với bát cơm ngàn nhà; Một mình muôn dặm xa; Chốn chốn không phải nhà; Chỗ nào cũng là nhà."

7. Blog mới của tôi: http://khongdenkhongdi.blogspot.com/ Những bài liên quan đến Phật Pháp Tăng đã, đang và sẽ được đăng tải trên blog mới này. Bạn nào có quan tâm thì xin mời qua bên ấy đọc nghen! Cảm ơn.

8. Tự do là ung dung trong ràng buộc.
Hạnh phúc là tự tại giữa đau thương.

Friday, June 22, 2012

Nỗi oan Thị Kính của Đức Phật


Phật mà cũng bị oan Thị Kính thì nghe hơi lạ tai các bạn nhỉ? Nhưng quả thật là Đức Phật bị oan. Nỗi oan gì?

Phật dạy chúng ta đến 84 ngàn pháp môn (tám mươi bốn ngàn pháp môn có phải ít ỏi gì đâu); vậy mà chúng ta thấy 84.000 pháp môn của Phật vẫn chưa đủ nên sáng chế thêm pháp môn nữa mới ghê và gọi đó là Pháp của Đức Phật. Như vậy chả phải là Phật bị oan sao? Vì sao tôi dám bảo chúng ta sáng chế pháp môn?

Nè nhé, các bạn, nhất là các bạn Phật tử nghe thử các bài thuyết pháp mà xem. Nhiều vị thuyết Pháp bằng ……………..tư tưởng của ………………..Khổng tử. Trời ạ, Khổng tử dạy chúng ta đạo đức, trong khi Đức Phật chỉ ta con đường giải thoát khỏi luân hồi sanh tử; dù hai Ngài đều là người cùng thời nhưng sao nỡ lòng nào lấy tư tưởng của Khổng tử ra mà thuyết pháp ấy nhỉ????

Thôi tôi khóc giùm cho Đức Phật vậy huhuhuhuhuhuhu.

Tóm lại khóc xong cũng chả có ích cho ai nên tôi chép lại bốn cách tham chiếu để xem những gì các vị tăng ni hay bất cứ ai nói có phải là chánh Pháp hay không. Bốn cách tham chiếu này do Đức Phật dạy vài tháng trước khi Ngài nhập Niết Bàn. Thông cảm là bằng tiếng Anh, chịu khó đọc nghen các bạn, thật ra cũng đơn giản lắm, nhiều câu được lặp đi lặp lại. Quan trọng lắm đó nên cố đọc nghe bà con! Thời Mạt Pháp, ai cũng nói loạn xạ được (tôi là một ví dụ đấy!) nên tự mình trang bị “vũ khí” để phân biệt chánh tà cái đã.

The Four Great References

Passing thence from village to village, the Buddha arrived at Bhoganagara and there taught the Four Great Citations of References (Mahapadesa) by means of which the Word of the Buddha could be tested and clarified in the following discourse:

1. A Bhikkhu may say thus – From the mouth of the Buddha Himself have I heard, have I received thus: “This is the Doctrine, this is the Discipline, this is the Teaching of the Master.” His words should neither be accepted nor rejected. Without either accepting or rejecting such words, study thoroughly every word and syllable and then put them beside the Discourses (Sutta) and compare them with the Disciplinary Rules (Vinaya). If, when so compared, they do not harmonise with the Discourses and do not agree with the Disciplinary Rules, then you may come to the conclusion: “Certainly this is not the Word of the Exalted One, this has been wrongly grasped by the Bhikkhu.”

Therefore, you should reject it.

If, when compared and contrasted, they harmonise with the Discourses and agree with the Disciplinary Rules, you may come to the conclusion: “Certainly this is the Word of the Exalted One, this has correctly been grasped by the Bhikkhu.”

Let this be regarded as the First Great Reference.

2. Again a Bhikkhu may say thus – ‘In such a monastery lives the Sangha together with leading Theras. From the mouth of that Sangha have I heard, have I received thus: “This is the Doctrine, this is the Discipline, this is the Master’s Teaching.” His words should neither be accepted nor rejected. Without either accepting or rejecting such words, study thoroughly every word and syllable and then put them beside the Discourses (Sutta) and compare them with the Disciplinary Rules (Vinaya). If, when so compared, they do not harmonise with the Discourses and do not agree with the Disciplinary Rules, then you may come to the conclusion: “Certainly this is not the Word of the Exalted One, this has been wrongly grasped by the Bhikkhu.”

Therefore, you should reject it.

If, when compared and contrasted, they harmonise with the Discourses and agree with the Disciplinary Rules, you may come to the conclusion: “Certainly this is the Word of the Exalted One, this has correctly been grasped by the Bhikkhu.”

Let this be regarded as the Second Great Reference.

3. Again a Bhikkhu may say thus – ‘In such a monastery dwell many Theras and Bhikkhus of great learning, versed in the teaching, proficient in the Doctrine, Vinaya, Discipline, and Matrices (Matika). From the mouth of those Theras have I heard, have I received thus: “This is the Doctrine, this is the Discipline, this is the Teaching of the Master.” His words should neither be accepted nor rejected. Without either accepting or rejecting such words, study thoroughly every word and syllable and then put them beside the Discourses (Sutta) and compare them with the Disciplinary Rules (Vinaya). If, when so compared, they do not harmonise with the Discourses and do not agree with the Disciplinary Rules, then you may come to the conclusion: “Certainly this is not the Word of the Exalted One, this has been wrongly grasped by the Bhikkhu.”

Therefore, you should reject it.

If, when compared and contrasted, they harmonise with the Discourses and agree with the Disciplinary Rules, you may come to the conclusion: “Certainly this is the Word of the Exalted One, this has correctly been grasped by the Bhikkhu.”

Let this be regarded as the Third Great Reference.

4. Again a Bhikkhu may say thus – ‘In such a monastery lives an elderly Bhikkhu of great learning, versed in the teachings, proficient in the Dhamma, Vinaya, and Matrices. From the mouth of that Thera have I heard, have I received thus: “This is the Doctrine, this is the Discipline, this is the Master’s Teaching.” His words should neither be accepted nor rejected. Without either accepting or rejecting such words, study thoroughly every word and syllable and then put them beside the Discourses (Sutta) and compare them with the Disciplinary Rules (Vinaya). If, when so compared, they do not harmonise with the Discourses and do not agree with the Disciplinary Rules, then you may come to the conclusion: “Certainly this is not the Word of the Exalted One, this has been wrongly grasped by the Bhikkhu.”

Therefore, you should reject it.

If, when compared and contrasted, they harmonise with the Discourses and agree with the Disciplinary Rules, you may come to the conclusion: “Certainly this is the Word of the Exalted One, this has correctly been grasped by the Bhikkhu.”

Let this be regarded as the Fourth Great Reference.

These, Bhikkhus, are the Four Great Refenrences.


Source: Book “The Buddha and His Teachings” Narada. Buddhist Missionary Society, Malaysia. 1988. Reprinted and donated for free distribution by The Corporate Body of the Buddha Education Foundation. Taiwan. 1998.P 250

Trước khi Phật nhập Niết Bàn, ông Ananda đứng khóc thút thít và hỏi: Bạch Đức Thế Tôn, Ngài đi rồi thì ai sẽ là thầy của chúng con?

Phật bảo: Lấy Pháp và Giới làm thầy của các ngươi.

Ngoài ra Phật còn bảo: Kẻ nào thấy Pháp của ta thì người đó thấy ta.

Phật chưa bao giờ bảo chúng ta tôn thờ bất cứ ai, kể cả Ngài. Mọi thứ đều phải dựa trên Pháp và Giới mà quy chiếu.

P.S. Thực ra khi nói về vấn đề thuyết pháp bằng tư tưởng Khổng tử, tôi dự định nói thêm nữa nhưng thôi nói ½ ý thôi rồi dừng lại để xem có ai hiểu tôi dự định muốn nói thêm gì nữa không? Nhiều bài tôi nói thẳng tẹt ra cả nhưng nhiều người hiểu sai ý nên bài này nói ½ thôi hy vọng mọi người hiểu đúng (mà mọi người có hiểu sai thì cũng…………….mặc kệ mọi người chứ, có liên quan gì đến tôi đâu hehehehehehehe.)

1 comment:

  1. Tay Khổng tử này là một tay làm loạn đời!!!
    Ai mà rao giảng giáo pháp của đức Phật bằng tư tưởng của Khổng tử thì nên bị treo dàn giáo!!!!
    Hehe...

    ReplyDelete